Chào mừng 80 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12/1944 - 22/12/2024)
Vượt Lên Hàng Đầu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 04h:01' 19-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 04h:01' 19-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
Vượt lên hang đầu
Jeffrey Archer
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới thiệu về nội dung:
Tiểu thuyết "Vượt Lên Hàng Đầu" là câu chuyện kể về 3 nghị sĩ trẻ thành đạt
đang trên đường chạy đua vào chức Thủ Tướng. Ai sẽ thắng? Đây là cuộc
chạy đua đầy mưu mô, không khoan nhượng và... Một điều không thể ngờ là
những người vợ và những người tình của họ cũng góp phần không nhỏ trong
sự thắng thua này.
Đôi nét về tác phẩm “First among equals”:
Tiểu thuyết First among equals khi xuất bản ở Anh là câu chuyện xung
quanh cuộc sống cá nhân và sự nghiệp của 4 chính trị gia người Anh (Simon
Kerslake, Charles Seymour, Raymond Gould và Andrew Fraser) trong giai
đoạn từ 1964-1991. Tác phẩm xoay quanh cuộc ganh đua để trở thành Thủ
tướng Vương quốc Anh. Một vài tình huống trong cuốn tiểu thuyết được lấy
từ sự nghiệp chính trị của chính tác giả lúc mới bước chân vào Hạ viện
Anh. Trong cuốn tiểu thuyết cũng xuất hiện các nhân vật chính trị của nước
Anh bao gồm cả Winston Churchill, Alec Douglas-Home, Harold Wilson,
Edward Heath, Margaret Thatcher...
Khi được xuất bản tại Hoa Kỳ, cuốn tiểu thuyết đã được viết lại. Theo đó
câu chuyện xung quanh nhân vật Andrew Fraser bị loại bỏ và chuyển giao
cho các nhân vật khác, đáng chú ý là Simon Kerslake. Một số sự kiện như:
thay đổi đối tượng hôn nhân và mất đi người con trai của mình là những sự
kiện xảy ra với Andrew Fraser trong cuốn sách xuất bản tại Anh thì lại được
chuyển sang cho Simon trong cuốn xuất bản tại Mỹ.
Tác giả Jeffrey Archer:
Jeffrey Archer sinh năm 1940, theo học tại trường Wellington,Somerset và
Bransenose College, Oxford. Năm 1969, sau khi thắng cử, ông trở thành đại
biểu trẻ nhất của Hạ nghị viện Anh. Năm 1974, ông viết cuốn tiểu thuyết
KHÔNG HƠN MỘT XU, KHÔNG KÉM MỘT XU và năm 1976, sau bản
in đầu tiên, cuốn sách trở nên nổi tiếng, được liên tục tái bản tới nay, được
dịch ra nhiều thứ tiếng, được đưa lên màn ảnh. Ông chính thức bước vào văn
chương từ đó và liên tục cho ra mắt độc giả những tác phẩm luôn được liệt
vào loại bán chạy nhất thế giới như cuốn HAI SỐ PHẬN hay ĐỨA CON
CỦA SỐ PHẬN... Jeffrey Archer hiện sống ở Luân Ðôn cùng vợ, Mary, và
hai con, Wil và James.
Ngoài các truyện dài và kịch bản, Jeffrey Archer còn được biết đến như là
một trong những cây bút viết truyện ngắn hay nhất thế giới hiện nay. Truyện
của ông là một chuỗi những pha hồi hộp nghẹt thở, cùng những nút mở bất
ngờ - mang hơi hướm những truyện trinh thám Anh - hoặc giả những kết
thúc bi đát để lại một dư hưởng kéo dài trong lòng người đọc như một điều
gì để suy ngẫm.
Jeffrey Archer có một cuộc sống đời thường thăng trầm và phức tạp, nhưng
hơn hết ông là một tác giả tài năng, với những tác phẩm xuất sắc. Nằm trong
số đó là cuốn tiểu thuyết “Vượt lên hàng đầu” với tựa gốc là “First among
equals”. VH-P mời các bạn cùng khám phá.
PHẦN MỞ ĐẦU
Thứ Bảy, ngày 27-04-1991
Vua Charles đệ tam đi đến quyết định cuối cùng. Cuộc bỏ phiếu đã diễn ra
một cách đúng đắn theo sắc lệnh của Hoàng gia. Các phòng đầu phiếu đã
đóng cửa, các phiếu đã được đếm, các máy điện toán đã tắt, và các chuyên
gia cũng như các tay nghiệp dư đều ngã quỵ không còn tin vào tai mình khi
họ nghe kết quả cuối cùng.
Vị vua mới đã không thể ngủ đêm thứ sáu hôm ấy. Trong lúc ngài vẫn
còn chưa xem xét lại tất cả khuyến cáo mà những quan cận thần đã đệ trình
cho ngài trong suốt hai mươi bốn giờ qua. Sự lựa chọn mà ngài cho phép đã
chẳng đơn giản một chút nào, so với việc ngài vừa mới lên ngôi.
Mấy phút sau đồng hồ trong tháp Big Ben [[i]] đổ 6 giờ sáng, các Nhật
báo buổi sáng được đặt ở hành lang bên ngoài phòng ngủ của ngài. Nhà vua
lặng lẽ ra khỏi giường, mặc áo khoác và mỉm cười với người hầu vừa giật
nảy mình khi ngài mở cửa. Nhà vua gom các tờ báo và mang tất cả vào
phòng riêng để cho Hoàng hậu sẽ không bị quấy rầy.
Ngay sau khi ngài đã yên vị một cách thoải mái trong chiếc ghế bành mà
ngài thích nhất, ngài giở qua trang xã luận.
Chỉ có một vấn đề đáng cho ngài quan tâm trong ngày hôm ấy. Tất cả
báo giới London đều đi đến cùng một kết luận: Kết quả của cuộc bầu cử
không thể nào gay go hơn, và vị vua mới đã bị đặt vào một tình thế hết sức tế
nhị về vấn đề ai là người mà ngài sẽ bổ nhiệm làm Thủ tướng.
Hầu hết các báo vẫn tiếp tục trình bày với Nhà vua khuyến cáo riêng của
họ về người ngài nên xem xét theo các quan hệ chính trị của riêng họ. Riêng
tờ Times London không nêu quan điểm như thế, mà chỉ gợi ý rằng Nhà vua
sẽ phải tỏ ra hết sức can đảm và dũng cảm trong lúc đương đầu với cơn
khủng hoảng hiến pháp đầu tiên của ngài nếu nền quân chủ cần phải duy trì
niềm tin trong một thế giới hiện đại
Vị vua bốn mươi ba tuổi thả mấy tờ báo xuống sàn và xem xét lại một
lần nữa những vấn đề về nên lựa chọn người nào. Chính trị quả thực là một
trò chơi kỳ lạ. Mới cách đây một thời gian ngắn rõ ràng đã có tới ba người để
xem xét, thế rồi đột nhiên một trong số đó không còn là một người thi đấu
nữa. Hai người còn lại – những người mà ngài nghi ngờ cũng không ngủ
được đêm hôm ấy – tuy nhiên theo chừng mực nào đấy họ vẫn hết sức giống
nhau. Cả hai người đó đã vào Hạ nghị viện năm 1964, đã điều khiển sự
nghiệp sáng chói ở tuổi hai mươi lăm với tư cách thành viên của Nghị viện
Anh. Họ đã chia nhau giữ các chức vụ Bộ trưởng Thương mại, Quốc phòng,
Ngoại giao và Tài chính trước khi được bầu làm lãnh tụ Đảng của riêng họ.
Với tư cách Hoàng tử xứ Wales, Nhà vua đã quan sát cả hai người từ
nhiều đường biên và dần dần khâm phục những đóng góp khác nhau của họ
cho đời sống xã hội. Ngay thẳng mà nói, ngài phải thừa nhận ngài vẫn luôn
luôn thích một người và trọng người kia.
Nhà vua xem đồng hồ tay rồi bấm một cái chuông trên chiếc bàn bên
cạnh ngài. Một người hầu mặc bộ đồng phục màu xanh dương bước vào
phòng như thể anh ta đang chờ đợi bên ngoài cửa suốt đêm. Anh ta bắt đầu
bày bộ y phục sáng ra trong lúc vị quân vương đi vào phòng bên cạnh, ở đó
mọi thứ để cho ngài tắm đã sẵn sàng. Khi Nhà vua trở lại, ngài mặc áo quần
trong im lặng trước khi ngồi vào một cái bàn nhỏ bên cạnh cửa sổ để được
phục vụ bữa điểm tâm. Ngài ăn một mình. Ngài đã để lại chỉ thị dứt khoát
rằng không một người con nào được phép quấy rầy ngài.
Lúc tám giờ ngài lui về phòng đọc để nghe bản tin buổi sáng. Không có
gì mới lạ. Các bình luận viên lúc này chỉ chờ xem ai là người sẽ được ngài
mời vào Hoàng cung để hôn tay.
Lúc chín giờ mười lăm ngài nhấc điện thoại lên.
- Ông hãy lên ngay, - ngài chỉ nói như thế.
Một lát sau viên bí thư riêng của Nhà vua bước vào phòng. Ông ta cúi
đầu chào, nhưng không nói gì, ông ta có thể thấy vị quân vương có vẻ đang
bận tâm đến một chuyện gì đó. Mãi một hồi lâu sau ngài mới lên tiếng:
- Tôi đã đi đến quyết định, - ngài thanh thản nói.
PHẦN MỘT
Dân biểu (1964 – 1966)
1
Nếu Charles Gurney Hampton chào đời sớm hơn chín phút chắc là anh đã trở
thành một bá tước và thừa hưởng một lâu đài ở Scotland, hai mươi hai nghìn
mẫu [[ii]] đất ở Somerset [[iii]] và một ngân hàng Thương mại phát đạt ở
London.
Phải mất mấy năm sau cậu bé Charles mới hiểu được ý nghĩa đầy đủ về
việc đến đích thứ hai trong cuộc chạy đua đầu tiên của đời mình.
Người anh song sinh với cậu, Rupert sống sót qua cuộc thử thách này, và
trong những năm kế tiếp chẳng những ốm đau mà còn bị thêm bệnh ban đỏ,
bệnh bạch cầu và bệnh viêm màng não, khiến cho mẹ cậu, bà Hampton, luôn
luôn lo sợ không qua khỏi.
Charles thì trái hẳn lại vẫn tồn tại và đã thừa hưởng tham vọng của dòng
họ Hampton đối với cả người anh và bản thân cậu. Chỉ ít năm sau những
người có cơ hội tiếp xúc với hai anh em lần đầu tiên đã tưởng lầm Charles là
người thừa kế tước vị bá tước.
Suốt những năm dài, cha của Charles hết sức cố gắng khám phá một
điều gì đó mà Rupert có thể vượt trội hơn cậu – và ông đã thất bại. Khi lên
tám, cả hai cậu vào trường Sơ cấp tư [[iv]] ở Summerfields, nơi đây nhiều
thế hệ của dòng họ Hampton đã từng được chuẩn bị cho những khuôn khổ
khắc nghiệt của Eton [[v]].
Trong tháng đầu tiên ở trường Charles đã được bầu làm lớp trưởng, và
không một ai cản trở tiến bộ của cậu trên đường trở thành Trưởng khối học
sinh ở lứa tuổi mười hai, vào thời gian đó Rupert đã bị xem là “cậu em
Hampton”. Cả hai cậu bé tiếp tục vào Eton, nơi đây trong học kỳ đầu tiên
Charles đã đánh bại Rupert với từng môn học, chèo xuồng nhanh hơn cậu
anh trên sông và gần như đánh chết cậu anh trong lúc đấu quyền Anh.
Năm 1947, khi ông nội của hai cậu, vị Bá tước thứ mười ba của
Bridgewater, cuối cùng qua đời, cậu bé Rupert mười sáu tuổi trở thành Tử
tước Hampton trong lúc Charles thừa hưởng một tước hiệu vô nghĩa.
Honorable Charles Hampton thường tức giận mỗi lần nghe cậu anh của
mình được nhiều người lạ thưa gọi một cách cung kính: “Ông chủ”.
Ở Eton, Charles vẫn tiếp tục xuất sắc và kết thúc những ngày ở trường
với chức Chủ tịch câu lạc bộ Pop độc đáo ở Eton trước khi được đề nghị một
chỗ ở Christ Church, Oxford, để học lịch sử. Rupert cũng học qua những
năm tương tự nhưng không đạt được một bảng danh dự nào. Tới tuổi mười
tám vị tử tước trẻ quay trở về sản nghiệp của gia đình ở Somerset để trải qua
phần còn lại của đời mình với tư cách một địa chủ. Không một ai được thừa
hưởng hai mươi hai nghìn mẫu đất mà lại bị xem là một nông dân.
Ở Oxford, Charles, thoát khỏi cái bóng của Rupert, tiến bộ với dáng vẻ
của một người nhận thấy trường đại học có một điều gì đó buồn chán. Anh
thường trải qua những ngày trong tuần đọc lịch sử các mối quan hệ, và
những ngày cuối tuần các bữa tiệc ở nhà hoặc đi săn bằng ngựa. Vì không ai
gợi ý rằng Rupert sẽ bước vào thế giới tài chính, người ta đoán rằng ngay sau
khi Charles tốt nghiệp Oxford, anh sẽ kế tục cha anh tại Ngân hàng của dòng
họ Hampton, đầu tiên với tư cách một viên giám đốc rồi lên chức Chủ tịch –
mặc dầu chính Rupert sẽ là người cuối cùng thừa hưởng số cổ phần của gia
đình.
Tuy nhiên, điều phỏng đoán này đã thay đổi khi một buổi tối Honorable
Charles Hampton bị lôi kéo tới Oxford Union, cô ta đã yêu cầu anh đến nghe
Sir Winston Churchil [[vi]] xuất hiện trước công chúng để thảo luận chủ đề:
“Tôi thà làm một thường dân hơn là một người quý tộc”.
Charles ngồi ở phía sau một gian đại sảnh đông nghẹt những sinh viên
đầy nhiệt huyết như bị mê hoặc bởi bài phát biểu của nhà lãnh tụ. Anh đã
không bao giờ rời mắt dù chỉ một lần khỏi vị lãnh đạo chiến tranh vĩ đại
trong suốt bài diễn văn vừa hóm hỉnh vừa hùng hồn của ông, mặc dầu điều
vẫn lướt qua tâm trí anh là sự nhận thức rằng, nếu không có một sự tình cờ
về việc ra đời, Churchil chắc đã là vị Công tước Marlborough. Đây là một
con người đã chi phối sân khấu thế giới trong ba thập kỷ rồi sau đó gạt bỏ
mọi vinh dự kế truyền mà một đất nước chịu ơn có thể ban tặng, kể cả tước
vị Công tước London.
Charles không bao giờ tự cho phép mình đề cập tới tước vị của anh nữa.
Kể từ lúc đó, tham vọng tột bực của anh không phải chỉ là các tước vị.
Một sinh viên khác lắng nghe Churchil đêm hôm ấy cũng đang suy xét
tương lai của chính mình. Nhưng anh không quan tâm những lời lẽ nhồi nhét
như các bạn của anh ở cuối gian đại sảnh đông đúc. Chàng thanh niên cao
lớn mặc áo khoác dài và mang cà vạt trắng ngồi một mình trong một chiếc
ghế rộng lớn trên bục cao, vì anh chính là Chủ tịch của Oxford Union. Dáng
dấp đẹp trai một cách tự nhiên của anh không liên quan tới việc tuyển cử bởi
vì phụ nữ vẫn còn không thể trở thành Hội viên.
Simon Kerslake không có được các lợi thế của Charles Hampton, là con
trai độc nhất của một luật sư gia đình, anh đã hiểu được cha anh đã phải tự
hạn chế như thế nào để đảm bảo cho con trai của mình phải luôn được học
trong trường công ở địa phương. Cha anh đã qua đời trong lúc mẹ anh đang
học năm cuối ở trường, để lại cho mẹ anh một khoản trợ cấp hàng năm thật
nhỏ và một đồng hồ treo tường tuyệt đẹp của ông nội Mackinley. Mẹ của
Simon bán chiếc đồng hồ một tuần sau đám tang để cho con trai bà có thể
hoàn tất năm học cuối cùng với tất cả những món “phụ phí” mà các học sinh
khác cho là đương nhiên. Bà cũng hy vọng rằng điều đó sẽ giúp Simon có cơ
may tiếp tục lên đại học.
Từ ngày đầu tiên biết đi, Simon vẫn luôn luôn muốn vượt xa những cậu
bé cùng tuổi. Người Mỹ chắc sẽ mô tả cậu như một kẻ “thành đạt”, trong lúc
nhiều người nghĩ về cậu như một kẻ huênh hoang, hoặc thậm chí ngạo mạn,
theo bản tính ganh tị của họ. Trong học kỳ cuối cùng của cậu ở Lancing,
Simon đã bị mất chức Trưởng trường, và mãi mãi nhận thấy mình không thể
tha thứ cho ông hiệu trưởng về sự thiếu lo xa của ông. Sau đó trong năm ấy,
cậu hụt mất một chỗ ở trường Đại học Magdalen của Oxford. Đó là một
quyết định mà Simon không muốn chấp nhận.
Trong cùng chuyến thư đó, trường Đại học Durham tặng anh một học
bổng mà anh đã viết thư từ chối “Các Thủ tướng tương lai không ai lại học ở
Durham”. Anh thông báo với mẹ.
- Còn Cambridge thì sao? – Mẹ anh nhẹ nhàng hỏi.
- Không có truyền thống chính trị, Simon đáp.
- Nhưng nếu không có may mắn được một chỗ ở Oxford, chắc là…?
- Đó không phải là điều con nói, mẹ à, - chàng thanh niên trả lời. – Con sẽ
là một sinh viên tại Oxford vào ngày đầu tiên của học kỳ.
Sau mười tám năm thắng lợi viển vông, bà Kerslake đã rút kinh nghiệm
nên ngừng hỏi con: “Làm sao con xoay xở được việc đó?”.
Mười bốn ngày trước khi bắt đầu kỳ nghỉ lễ Noel tại Oxford, Simon
đăng ký ở trong một nhà khách nhỏ chỉ cách đường Iffley một khoảng. Trên
một cái bàn được kê bằng một bộ ngựa gỗ trong góc phòng trọ mà anh định
sử dụng lâu dài, anh viết ra một danh sách tất cả các trường Đại học ở
Oxford, rồi chia chúng thành năm cột, dự tính sẽ đến ba trường mỗi buổi
sáng và ba trường mỗi buổi chiều cho đến khi câu hỏi của anh đã được trả lời
một cách rõ ràng bởi một thầy trợ giáo nội trú phụ trách tiếp nhận: “ Năm
nay trường có tiếp nhận sinh viên năm thứ nhất nào mà lúc này vẫn không
thể đến trình diện hay không?”.
Vào buổi chiều ngày thứ bốn, ngay khi mối nghi ngờ đang bắt đầu phát
sinh và Simon đang tự hỏi phải chăng xét cho cùng anh sẽ phải đi đến
Cambridge tuần tới, nơi anh vừa nhận được giấy gọi nhập học đầu tiên.
Vị trợ giáo phụ trách tiếp nhận ở trường Đại học Worcester nhấc cặp
kính khỏi chóp mũi và chăm chú nhìn lên cậu thanh niên cao lớn có mớ tóc
đen xõa trên trán. Cặp mắt nâu cuồng nhiệt của cậu thanh niên vẫn không rời
khỏi vị trợ giáo. Alan Brown là vị trợ giáo thứ hai mươi hai mà Simon
Kerslake đã tìm đến trong bốn ngày.
- Có, ông trả lời. – Đã có một chuyện đau buồn xảy đến: một em ở trường
Trung học Nottingham, đã được nhận vào học ở đây, vừa chết trong một
tai nạn xe gắn máy tháng trước.
- Anh ấy đã định học lớp… môn nào, thưa thầy? – Simon hỏi với giọng
ngập ngừng một cách khác thường.
Anh cầu nguyện đó không phải là hóa học, kiến trúc hoặc văn học cổ
điển. Alan Brown xem qua tập hồ sơ trên bàn, rõ ràng thích thú với trò đối
chất nhỏ này. Ông nhìn kỹ vào một tấm thẻ trước mặt ông.
- Lịch sử, - ông thông báo.
Nhịp tim của Simon chợt lên tới một trăm hai mươi.
- Em vừa hụt mỗ chỗ ở Magdalen để học chính trị, triết học và kinh tế, anh nói. – Thầy có thể cho em thế vào chỗ trống đó không ạ?
Ông già không thể che giấu một nụ cười. Trong hai mươi bốn năm qua,
ông chưa bao giờ nghe thấy một đề nghị như thế.
- Tên họ của em là gì? – Ông vừa nói vừa đeo lại kính tựa hồ công việc
nghiêm túc của cuộc gặp gỡ lúc này đã bắt đầu.
- Simon John Kerslake.
Tiến sĩ Brown liền nhấc máy điện thoại bên cạnh ông và quay một số.
- Nigel đó à? – Ông nói. – Đây là Alan Brown. Anh đã từng xem xét
việc thu nhận một người tên Kerslake vào học ở Magdalen phải không?
Bà Kerslake không ngạc nhiên khi cậu con trai của bà tiếp tục giữ chức
Chủ tịch của Oxford Union. Xét cho cùng, bà nghĩ, có phải đây chỉ là một
bàn đạp nữa trên con đường đến chức Thủ tướng – Gladstone [[vii]], Asquith
[[viii]]… Kerslake?
Ray Gould ra đời trong một căn phòng nhỏ kín không có cửa sổ phía trên
cửa hàng thịt của cha cậu ở Leeds. Trong chín năm đầu tiên của đời mình
cậu đã sống chung trong căn phòng đó với người bà đau yếu của cậu, cho
đến khi cụ qua đời ở tuổi sáu mươi mốt.
Việc gần gũi của Ray với bà cụ đã mất chồng trong Chiến tranh thế giới
lần thứ nhất, thoạt tiên có vẻ lãng mạn đối với cậu. Cậu thường lắng nghe hết
sức thích thú trong lúc bà kể cho cậu những câu chuyện về ông cậu trong bộ
đồng phục kaki chỉnh tề - một bộ đồng phục hiện giờ được xếp một cách
ngay ngắn trong ngăn kéo phòng ngủ của bà, nhưng vẫn còn trưng bày trong
bức ảnh màu nâu đã phai mờ bên cạnh giường bà. Tuy nhiên, chẳng bao lâu
sau các câu chuyện của bà khiến cho lòng Ray tràn đầy buồn bã trong lúc
cậu hay biết rằng bà đã trở thành một người vợ góa trong gần ba chục năm.
Cuối cùng trông bà thật là thảm hại khi cậu nhận thức được rằng bà có kinh
nghiệm thật ít ỏi như thế nào về thế giới bên kia căn phòng chật chội, trong
đó và đã bị vây bọc bởi tất cả các vật sở hữu của bà và một chiếc phong bì
ngả màu vàng đựng năm trăm tấm trái phiếu chiến tranh không thể đổi thành
tiền.
Bà nội của Ray không hề có ý định làm một bản chúc thư, bởi vì tất cả
những gì cậu thừa hưởng chỉ là căn phòng. Ban đêm nó không còn là một
phòng ngủ đôi mà trở thành một phòng học, đầy những sách mượn ở thư
viện và sách giáo khoa, loại sau thường trả trễ, tận dụng hết những món tiền
túi vụn vặt ít ỏi của Ray. Nhưng cứ mỗi báo cáo của nhà trường được gửi về
nhà, cha của Ray lại càng thấy rõ hơn rằng ông sẽ không nới rộng tấm bảng
hiệu phía trên cửa hàng thịt để thay bằng hàng chữ “Gould và con trai”.
Lúc mười một tuổi, Ray nhận được học bổng cao nhất vào trường Trung
học Roundhay. Mặc chiếc quần dài đầu tiên – đã được mẹ cậu cắt ngắn bớt
mấy inch – và mang cặp kính gọng sừng không thích hợp một chút nào, cậu
lên đường đến trường mới vào ngày khai giảng. Mẹ Ray hy vọng còn có các
cậu bé khác cũng gầy gò và đầy mụn như con bà, và mái tóc đỏ gợn sóng của
con sẽ không khiến cho cậu liên tục bị chọc ghẹo.
Vào cuối học kỳ đầu tiên, Ray ngạc nhiên vì cậu vượt xa các bạn cùng
tuổi, quả thực xa đến nỗi ông Hiệu trưởng phải thận trọng đặt cậu lên một
dạng “cần để cho cậu bé thư giãn một chút” như ông giải thích với cha mẹ
của Ray. Vào cuối năm, người ta dùng thì giờ chủ yếu trong lớp học, Ray
được xếp thứ ba trong lớp, và đứng nhất tiếng La tinh về tiếng Anh. Chỉ khi
xảy ra việc chọn lựa các đội thể thao Ray mới phát hiện cậu là hạng bét trong
môn này. Tuy nhiên trí tuệ của cậu vẫn luôn luôn sắc sảo, dường như không
hề phù hợp với cơ thể cậu.
Trong bất cứ trường hợp nào, sự cạnh tranh duy nhất mà cậu lưu tâm
trong năm ấy là giải thưởng tiểu luận của trường cấp II. Người đoạt giải
thưởng sẽ phải đọc bài thi của mình trước tập thể học sinh và phụ huynh vào
ngày lễ phát thưởng hàng năm. Ngay cả trước khi cậu nộp bài thi, Ray đã
diễn tập nhiều lần trong phòng ngủ vừa là phòng học, sợ rằng cậu sẽ không
được chuẩn bị một cách hoàn chỉnh nếu đợi tới khi công bố người đoạt giải.
Thầy giáo dạy nghi thức của Ray đã nói cho tất cả học sinh biết rằng chủ
đề của bài tiểu luận có thể do các cậu tùy ý chọn, nhưng cần phải cố hồi
tưởng một kinh nghiệm nào đó độc nhất đối với các cậu. Sau khi đọc bài
thuật lại cuộc đời của bà nội cậu trong căn phòng nhỏ phía trên cửa hàng thịt,
thầy giáo dạy nghi thức không muốn xem một bài nào nữa. Tuy nhiên ông
vẫn phải chật vật đọc hết các bài còn lại theo đúng nhiệm vụ của mình, và
ông đã không do dự đề nghị trao giải thưởng cho bài tiểu luận của Gould. Sự
dè dặt duy nhất, ông nhìn nhận với Ray, là việc lựa chọn đầu đề. Ray cám ơn
ông về lời khuyên đó nhưng đầu đề vẫn giữ nguyên.
Vào buổi sáng lễ phát thưởng, gian đại sảnh của trường chật ních với
chín trăm học sinh và phụ huynh. Sau khi ông hiệu trưởng đọc bài diễn văn
và tiếng vỗ tay lắng xuống, ông thông báo:
- Bây giờ tôi sẽ mời học sinh đoạt giải thưởng tiểu luận lên đọc bài thi
của cậu. Ray Gould.
Ray liền rời khỏi chỗ và bước một cách tự tin lên sân khấu. Cậu chăm
chú nhìn xuống hai nghìn khuôn mặt chờ đợi và không tỏ vẻ lo sợ một chút
nào, một phần vì cậu khó nhìn rõ quá khỏi hàng thứ ba. Khi cậu thông báo
đầu đề của bài tiểu luận, một số cậu bé nhỏ tuổi hơn bắt đầu cười khẩy,
khiến Ray ấp úng mấy dòng đầu tiên. Nhưng lúc cậu đọc tới trang cuối cả
gian đại sảnh đông nghịt im phăng phắc, và sau khi cậu kết thúc đoạn cuối
cậu đã được cử tọa đứng dậy vỗ tay tán thưởng lần đầu tiên trong đời.
Cậu bé mười hai tuổi Ray Gould rời sân khấu để trở về chỗ ngồi bên
cạnh cha mẹ. Đầu của mẹ cậu cúi xuống nhưng cậu vẫn có thể trông thấy
nước mắt chảy dài trên má. Cha cậu thì cố không tỏ ra quá hãnh diện. Ngay
cả khi Ray đã ngồi xuống, tiếng vỗ tay vẫn còn tiếp tục, vì thế cậu cũng cúi
đầu xuống như thể chăm chú nhìn vào đầu đề của bài tiểu luận đoạt giải
thưởng: “ Những đổi thay đầu tiên tôi sẽ tạo nên khi tôi trở thành Thủ
tướng”.
2
Thứ Năm, ngày 10-12-1994
Vị chủ trì hội nghị đứng dậy và quan sát các Nghị viên. Ông giật mạnh chiếc
áo choàng dài bằng lụa đen, rồi bồn chồn vặn bộ tóc giả phủ trên cái đầu hói.
Nghị viện Anh đã hầu như không thể kiểm soát trong suốt phiên họp mất trật
tự một cách đặc biệt về các câu hỏi của Thủ tướng và ông vui sướng khi
trông thấy chiếc đồng hồ treo đã chỉ ba giờ rưỡi. Thời gian cần phải chuyển
sang công việc tiếp theo của ngày hôm ấy.
Ông đứng chuyển đổi chân liên tục, chờ cho hơn năm trăm thành viên
của Nghị viện hiện diện ổn định chỗ ngồi trước khi ông trang nghiêm lên
tiếng:
- Có thành viên muốn tuyên thệ.
Toàn thể mọi người chuyển cái nhìn từ vị chủ trì Hội nghị về phía cuối
phòng, như một đám người đang xem một trận đấu quần vợt.
Thành viên vừa mới được bầu vào Nghị viện đứng ở cửa vào. Với chiều
cao sáu feet bốn [[ix]], trông anh giống như một người sinh ra với đảng Bảo
thủ trong đầu. Cái đầu quý tộc của anh được đặt trên một thân hình thượng
lưu, một mái tóc vàng được chải một cách tỉ mỉ. Mặc một bộ com lê cài chéo
màu xám sẫm, với một chiếc cà vạt của Vệ binh trung đoàn màu đỏ và xanh,
hai bên là người tiến cử và người ủng hộ anh, Charles Hampton bước lên
bốn bước về phía trước. Như những vệ binh đã được tập luyện kỹ, họ dừng
lại và cúi chào, đoạn tiến tới chiếc bàn dài đặt phía trước ghế của vị chủ trì
Hội nghị giữa hai ghế Nghị viên phía trước. Charles ngạc nhiên vì căn phòng
trong thực tế nhỏ như thế nào: những chiếc ghế của phe Chính phủ và phe
Đối lập ở đối diện nhau chỉ cách nhau một khoảng dài bằng lưỡi kiếm.
Charles chợt nhớ lại rằng trong lịch sử một khoảng dài bằng lưỡi kiếm đã có
một lần đảm bảo sự an toàn của các đối thủ không đội trời chung ngồi đối
diện với nhau.
Rời khỏi hai người bảo lãnh đang theo sát phía sau, anh đi qua cái bàn
dài, bước qua chân của vị Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao trước khi
được thư ký của Nghị viện trao lời thề.
Anh nắm tấm thẻ nhỏ trong bàn tay phải và đọc từng từ một cách quả
quyết như lời thề hôn lễ của anh.
- Tôi, Charles Hampton, xin tuyên thệ tôi sẽ trung thành với Nữ hoàng
Elizabeth, những người kế tục theo đúng pháp luật, vì vậy xin Chúa phù hộ
tôi.
- Nghe, nghe, - những đồng nghiệp của anh thốt lên trong lúc thành viên
mới của Nghị viện cúi xuống để ghi vào Text Roll, một tấm giấy da xếp lại
theo dạng một cuốn sách.
Charles tiếp tục đi về phía ghế của vị chủ trì hội nghị rồi anh dừng lại và
cúi chào.
- Chào mừng ông Hampton vào Nghị viện, - vị chủ trì hội nghị vừa nói
vừa bắt tay anh.– Tôi hy vọng anh sẽ phục vụ Nghị viện trong nhiều năm sắp
tới.
- Xin cảm ơn ông, - Charles nói, và cúi chào một lần cuối trước khi tiếp
tục đi tới khu vực nhỏ phía sau ghế của vị chủ trì hội nghị.
Anh đã tiến hành buổi lễ nhỏ giống hệt như Nghị viên Bảo thủ phụ trách
tổ chức đã diễn tập với anh trong dãy hành lang bên ngoài văn phòng của
ông.
- Chúc mừng chiến thắng tuyệt vời của anh, Charles – vị cựu Thủ tướng
và hiện giờ là lãnh tụ phe Đối lập, Sir Alec Douglas – Home, vừa nói vừa bắt
tay anh một cách nồng nhiệt – Tôi biết anh sẽ có nhiều cống hiến cho đảng
Bảo thủ và đất nước của anh.
- Cảm ơn ông, - vị nghị sĩ mới trả lời.
Sau khi chờ Sir Alec trở lại chỗ của ông trên ghế trước của phe Đối lập,
Charles Hampton bước lên bậc thang của lối đi giữa các ghế để tìm một chỗ
ở hàng ghế dài có màu xanh lá cây ở sau cùng.
Trong hai giờ kế đó anh theo dõi những nghi lễ của Nghị viện với một
tâm trạng vừa thán phục vừa hứng thú.
Anh khâm phục sự thẳng thắn và công bằng của hệ thống Nghị viện
trong cuộc tranh cử sôi nổi trước mắt anh. Đảng Lao động chống lại đảng
Bảo thủ, phe Chính phủ chống lại phe Đối lập, Bộ trưởng thuộc phe Chính
phủ chống lại Bộ trưởng thuộc phe Đối lập. Và như với hai đội bóng đá
Charles biết mọi vị trí đều được kiểm soát. – Bộ trưởng phe Chính phủ liên
tục được Bộ trưởng phe Đối lập xem xét cẩn thận. Anh cũng biết rằng nếu
đảng Bảo thủ thắng thế trong cuộc bầu cử sắp tới, phe Đối lập đã được chuẩn
bị kỹ càng để nắm quyền kiểm soát Chính phủ Lao động sắp mãn nhiệm.
Liếc mắt lên chỗ khách mời, anh trông thấy vợ, Fiona, cha anh, vị Bá
tước thứ mười bốn của Bridge Water, và anh trai của anh, Tử tước Hampton,
tất cả đang chăm chú nhìn xuống anh với niềm kiêu hãnh. Chắc chắn lúc này
không một ai có thể nghi ngờ một chút gì về việc trong hai anh em ai là
người nên thừa hưởng tước vị của gia đình Hampton. Lần đầu tiên trong đời,
anh đã tìm ra một thứ không phải do anh được thừa kế hoặc do chiếm được
mà không cần phải cố gắng.
Charles thoải mái ngồi xuống trên nấc thang đầu tiên.
Raymond Gould chăm chú nhìn xuống tờ giấy mời. Anh chưa bao giờ
trông thấy bên trong của số 10 đường Downing [[x]]. Trong suốt mười ba
năm cuối cùng dưới quyền của đảng Bảo thủ ít người thuộc đảng Lao động
có thể đến đó. Anh chuyển tấm thiệp in nổi qua bàn điểm tâm cho vợ.
- Em nên nhận lời hay từ chối, Ray? – Nàng hỏi bằng giọng nặng miền
Yorkshire.
Nàng là người duy nhất vẫn còn gọi anh là Ray, và ngay cả sự cố gắng
tỏ ra hài hước của nàng lúc này cũng cho anh khó chịu. Những tác giả bi
kịch Hy Lạp đã dựa vào “sai lầm định mệnh” để viết nên các kiệt tác của họ,
và anh tin chắc mình cũng thế.
Anh đã gặp Joyce tại một cuộc khiêu vũ do các nữ y tá của Bệnh viện
Leeds General tổ chức. Anh đã không muốn đi nhưng một người bạn sinh
viên năm thứ hai ở Roundhay thuyết phục anh đó sẽ là một dịp nghỉ ngơi thú
vị. Ở trường, anh vẫn tỏ ra ít quan tâm đến các cô gái, và như mẹ anh thường
nhắc nhở anh, sẽ có nhiều cơ hội tìm bạn một khi anh đã tốt nghiệp. Khi anh
trở thành một sinh viên, anh cảm thấy chắc chắn rằng anh là gã trai tân duy
nhất còn sót lại ở trường Đại học.
Rốt cuộc anh đã ngồi một mình trong góc một căn phòng được trang
hoàng với những bong bóng rủ xuống nhấm nháp một cách buồn phiền một
lon coke qua một ống hút uốn cong. Mỗi lần người bạn học của anh quay
tròn khỏi sàn nhảy, - mỗi lần với một cô gái khác. – Raymond lại toét miệng
cười với bạn. Với cặp kính của hãng y tế Quốc gia nhét trong túi, anh không
sao chắc chắn mình đang mỉm cười với đúng người. Anh bắt đầu nghĩ xem
vào giờ nào anh có thể ra về mà không phải thừa nhận buổi tối là cả sự đầy
ải. Chắc hẳn anh đã hoảng sợ vì lời nói mở đầu của nàng nếu anh không
quen với giọng nói nặng trịch đó.
- Anh ở cùng trường Đại học?
- Cùng với ai? – Anh hỏi mà không nhìn thẳng vào nàng.
- Cùng với bạn anh, - nàng nói.
- Vâng. – anh vừa nói vừa nhìn lên một cô gái mà anh đoán chừng vào
khoảng tuổi anh.
- Em ở Bradford.
- Tôi ở Leeds, - anh nhìn nhận, và trong lúc từng giây trôi qua biết rằng
mặt anh đang đỏ dần lên như mái tóc của anh.
- Giọng anh không giống ở nơi đó một chút nào.
Lời nói đó khiến anh thích thú.
- Tên em là Joyce, - nàng tự nguyện xưng danh.
- Tên tôi là Ray, - anh nói.
- Thích khiêu vũ chứ?
Anh muốn nói cho nàng biết rằng anh ít khi bước lên sàn nhảy, nhưng
anh không có can đảm. Như một con búp bê, anh thấy mình đứng lên và
được nàng dẫn về phía những người đang khiêu vũ. Thật là quá đáng đối với
giả thuyết của anh rằng anh là một người có bản chất lãnh đạo.
Lúc họ đã ở trên sàn nhảy, anh nhìn nàng một cách đứng đắn lần đầu
tiên. Nàng là người mà bất cứ chàng trai Yorkshire nào cũng phải thích.
Nàng cao khoảng 1 bảng[[xi]] và mái tóc màu nâu vàng của nàng buộc lại
thành một cái đuôi ngựa tương họp với đôi mắt màu nâu sẫm được hóa trang
hơi nhiều ở chung quanh. Nàng dùng son môi màu hồng giống như chiếc váy
ngắn của nàng, từ đó lộ ra đôi chân rất quyến rũ. Chúng có vẻ còn quyến rũ
hơn nữa khi nàng xoay tròn theo tiếng nhạc của ban nhạc sinh viên.
Raymond khám phá ra rằng nếu anh xoay Joyce thật nhanh anh có thể trông
thấy phần trên của tất nàng, và anh đã ở lại trên sàn nhảy lâu hơn rất nhiều
so với điều anh nghĩ mình có thể. Sau khi các nhạc công dọn dẹp nhạc cụ
của họ, Joyce đã hôn từ biệt anh trước lúc Ray trở về căn phòng nhỏ của anh
phía trên cửa hàng thịt.
Ngày Chủ nhật kế tiếp, trong một cố gắng chiếm ưu thế, anh đưa Joyce
đi chèo thuyền trên sông Aire, nhưng thành tích của anh ở đó cũng không
khá hơn tài khiêu vũ của anh, và mọi việc trên sông đều khiến anh ngỡ
ngàng, kể cả một người bơi lội rất chì. Anh những tưởng sẽ nghe một tiếng
cười chế nhạo, nhưng Joyce chỉ mỉm cười và nói...
Jeffrey Archer
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới thiệu về nội dung:
Tiểu thuyết "Vượt Lên Hàng Đầu" là câu chuyện kể về 3 nghị sĩ trẻ thành đạt
đang trên đường chạy đua vào chức Thủ Tướng. Ai sẽ thắng? Đây là cuộc
chạy đua đầy mưu mô, không khoan nhượng và... Một điều không thể ngờ là
những người vợ và những người tình của họ cũng góp phần không nhỏ trong
sự thắng thua này.
Đôi nét về tác phẩm “First among equals”:
Tiểu thuyết First among equals khi xuất bản ở Anh là câu chuyện xung
quanh cuộc sống cá nhân và sự nghiệp của 4 chính trị gia người Anh (Simon
Kerslake, Charles Seymour, Raymond Gould và Andrew Fraser) trong giai
đoạn từ 1964-1991. Tác phẩm xoay quanh cuộc ganh đua để trở thành Thủ
tướng Vương quốc Anh. Một vài tình huống trong cuốn tiểu thuyết được lấy
từ sự nghiệp chính trị của chính tác giả lúc mới bước chân vào Hạ viện
Anh. Trong cuốn tiểu thuyết cũng xuất hiện các nhân vật chính trị của nước
Anh bao gồm cả Winston Churchill, Alec Douglas-Home, Harold Wilson,
Edward Heath, Margaret Thatcher...
Khi được xuất bản tại Hoa Kỳ, cuốn tiểu thuyết đã được viết lại. Theo đó
câu chuyện xung quanh nhân vật Andrew Fraser bị loại bỏ và chuyển giao
cho các nhân vật khác, đáng chú ý là Simon Kerslake. Một số sự kiện như:
thay đổi đối tượng hôn nhân và mất đi người con trai của mình là những sự
kiện xảy ra với Andrew Fraser trong cuốn sách xuất bản tại Anh thì lại được
chuyển sang cho Simon trong cuốn xuất bản tại Mỹ.
Tác giả Jeffrey Archer:
Jeffrey Archer sinh năm 1940, theo học tại trường Wellington,Somerset và
Bransenose College, Oxford. Năm 1969, sau khi thắng cử, ông trở thành đại
biểu trẻ nhất của Hạ nghị viện Anh. Năm 1974, ông viết cuốn tiểu thuyết
KHÔNG HƠN MỘT XU, KHÔNG KÉM MỘT XU và năm 1976, sau bản
in đầu tiên, cuốn sách trở nên nổi tiếng, được liên tục tái bản tới nay, được
dịch ra nhiều thứ tiếng, được đưa lên màn ảnh. Ông chính thức bước vào văn
chương từ đó và liên tục cho ra mắt độc giả những tác phẩm luôn được liệt
vào loại bán chạy nhất thế giới như cuốn HAI SỐ PHẬN hay ĐỨA CON
CỦA SỐ PHẬN... Jeffrey Archer hiện sống ở Luân Ðôn cùng vợ, Mary, và
hai con, Wil và James.
Ngoài các truyện dài và kịch bản, Jeffrey Archer còn được biết đến như là
một trong những cây bút viết truyện ngắn hay nhất thế giới hiện nay. Truyện
của ông là một chuỗi những pha hồi hộp nghẹt thở, cùng những nút mở bất
ngờ - mang hơi hướm những truyện trinh thám Anh - hoặc giả những kết
thúc bi đát để lại một dư hưởng kéo dài trong lòng người đọc như một điều
gì để suy ngẫm.
Jeffrey Archer có một cuộc sống đời thường thăng trầm và phức tạp, nhưng
hơn hết ông là một tác giả tài năng, với những tác phẩm xuất sắc. Nằm trong
số đó là cuốn tiểu thuyết “Vượt lên hàng đầu” với tựa gốc là “First among
equals”. VH-P mời các bạn cùng khám phá.
PHẦN MỞ ĐẦU
Thứ Bảy, ngày 27-04-1991
Vua Charles đệ tam đi đến quyết định cuối cùng. Cuộc bỏ phiếu đã diễn ra
một cách đúng đắn theo sắc lệnh của Hoàng gia. Các phòng đầu phiếu đã
đóng cửa, các phiếu đã được đếm, các máy điện toán đã tắt, và các chuyên
gia cũng như các tay nghiệp dư đều ngã quỵ không còn tin vào tai mình khi
họ nghe kết quả cuối cùng.
Vị vua mới đã không thể ngủ đêm thứ sáu hôm ấy. Trong lúc ngài vẫn
còn chưa xem xét lại tất cả khuyến cáo mà những quan cận thần đã đệ trình
cho ngài trong suốt hai mươi bốn giờ qua. Sự lựa chọn mà ngài cho phép đã
chẳng đơn giản một chút nào, so với việc ngài vừa mới lên ngôi.
Mấy phút sau đồng hồ trong tháp Big Ben [[i]] đổ 6 giờ sáng, các Nhật
báo buổi sáng được đặt ở hành lang bên ngoài phòng ngủ của ngài. Nhà vua
lặng lẽ ra khỏi giường, mặc áo khoác và mỉm cười với người hầu vừa giật
nảy mình khi ngài mở cửa. Nhà vua gom các tờ báo và mang tất cả vào
phòng riêng để cho Hoàng hậu sẽ không bị quấy rầy.
Ngay sau khi ngài đã yên vị một cách thoải mái trong chiếc ghế bành mà
ngài thích nhất, ngài giở qua trang xã luận.
Chỉ có một vấn đề đáng cho ngài quan tâm trong ngày hôm ấy. Tất cả
báo giới London đều đi đến cùng một kết luận: Kết quả của cuộc bầu cử
không thể nào gay go hơn, và vị vua mới đã bị đặt vào một tình thế hết sức tế
nhị về vấn đề ai là người mà ngài sẽ bổ nhiệm làm Thủ tướng.
Hầu hết các báo vẫn tiếp tục trình bày với Nhà vua khuyến cáo riêng của
họ về người ngài nên xem xét theo các quan hệ chính trị của riêng họ. Riêng
tờ Times London không nêu quan điểm như thế, mà chỉ gợi ý rằng Nhà vua
sẽ phải tỏ ra hết sức can đảm và dũng cảm trong lúc đương đầu với cơn
khủng hoảng hiến pháp đầu tiên của ngài nếu nền quân chủ cần phải duy trì
niềm tin trong một thế giới hiện đại
Vị vua bốn mươi ba tuổi thả mấy tờ báo xuống sàn và xem xét lại một
lần nữa những vấn đề về nên lựa chọn người nào. Chính trị quả thực là một
trò chơi kỳ lạ. Mới cách đây một thời gian ngắn rõ ràng đã có tới ba người để
xem xét, thế rồi đột nhiên một trong số đó không còn là một người thi đấu
nữa. Hai người còn lại – những người mà ngài nghi ngờ cũng không ngủ
được đêm hôm ấy – tuy nhiên theo chừng mực nào đấy họ vẫn hết sức giống
nhau. Cả hai người đó đã vào Hạ nghị viện năm 1964, đã điều khiển sự
nghiệp sáng chói ở tuổi hai mươi lăm với tư cách thành viên của Nghị viện
Anh. Họ đã chia nhau giữ các chức vụ Bộ trưởng Thương mại, Quốc phòng,
Ngoại giao và Tài chính trước khi được bầu làm lãnh tụ Đảng của riêng họ.
Với tư cách Hoàng tử xứ Wales, Nhà vua đã quan sát cả hai người từ
nhiều đường biên và dần dần khâm phục những đóng góp khác nhau của họ
cho đời sống xã hội. Ngay thẳng mà nói, ngài phải thừa nhận ngài vẫn luôn
luôn thích một người và trọng người kia.
Nhà vua xem đồng hồ tay rồi bấm một cái chuông trên chiếc bàn bên
cạnh ngài. Một người hầu mặc bộ đồng phục màu xanh dương bước vào
phòng như thể anh ta đang chờ đợi bên ngoài cửa suốt đêm. Anh ta bắt đầu
bày bộ y phục sáng ra trong lúc vị quân vương đi vào phòng bên cạnh, ở đó
mọi thứ để cho ngài tắm đã sẵn sàng. Khi Nhà vua trở lại, ngài mặc áo quần
trong im lặng trước khi ngồi vào một cái bàn nhỏ bên cạnh cửa sổ để được
phục vụ bữa điểm tâm. Ngài ăn một mình. Ngài đã để lại chỉ thị dứt khoát
rằng không một người con nào được phép quấy rầy ngài.
Lúc tám giờ ngài lui về phòng đọc để nghe bản tin buổi sáng. Không có
gì mới lạ. Các bình luận viên lúc này chỉ chờ xem ai là người sẽ được ngài
mời vào Hoàng cung để hôn tay.
Lúc chín giờ mười lăm ngài nhấc điện thoại lên.
- Ông hãy lên ngay, - ngài chỉ nói như thế.
Một lát sau viên bí thư riêng của Nhà vua bước vào phòng. Ông ta cúi
đầu chào, nhưng không nói gì, ông ta có thể thấy vị quân vương có vẻ đang
bận tâm đến một chuyện gì đó. Mãi một hồi lâu sau ngài mới lên tiếng:
- Tôi đã đi đến quyết định, - ngài thanh thản nói.
PHẦN MỘT
Dân biểu (1964 – 1966)
1
Nếu Charles Gurney Hampton chào đời sớm hơn chín phút chắc là anh đã trở
thành một bá tước và thừa hưởng một lâu đài ở Scotland, hai mươi hai nghìn
mẫu [[ii]] đất ở Somerset [[iii]] và một ngân hàng Thương mại phát đạt ở
London.
Phải mất mấy năm sau cậu bé Charles mới hiểu được ý nghĩa đầy đủ về
việc đến đích thứ hai trong cuộc chạy đua đầu tiên của đời mình.
Người anh song sinh với cậu, Rupert sống sót qua cuộc thử thách này, và
trong những năm kế tiếp chẳng những ốm đau mà còn bị thêm bệnh ban đỏ,
bệnh bạch cầu và bệnh viêm màng não, khiến cho mẹ cậu, bà Hampton, luôn
luôn lo sợ không qua khỏi.
Charles thì trái hẳn lại vẫn tồn tại và đã thừa hưởng tham vọng của dòng
họ Hampton đối với cả người anh và bản thân cậu. Chỉ ít năm sau những
người có cơ hội tiếp xúc với hai anh em lần đầu tiên đã tưởng lầm Charles là
người thừa kế tước vị bá tước.
Suốt những năm dài, cha của Charles hết sức cố gắng khám phá một
điều gì đó mà Rupert có thể vượt trội hơn cậu – và ông đã thất bại. Khi lên
tám, cả hai cậu vào trường Sơ cấp tư [[iv]] ở Summerfields, nơi đây nhiều
thế hệ của dòng họ Hampton đã từng được chuẩn bị cho những khuôn khổ
khắc nghiệt của Eton [[v]].
Trong tháng đầu tiên ở trường Charles đã được bầu làm lớp trưởng, và
không một ai cản trở tiến bộ của cậu trên đường trở thành Trưởng khối học
sinh ở lứa tuổi mười hai, vào thời gian đó Rupert đã bị xem là “cậu em
Hampton”. Cả hai cậu bé tiếp tục vào Eton, nơi đây trong học kỳ đầu tiên
Charles đã đánh bại Rupert với từng môn học, chèo xuồng nhanh hơn cậu
anh trên sông và gần như đánh chết cậu anh trong lúc đấu quyền Anh.
Năm 1947, khi ông nội của hai cậu, vị Bá tước thứ mười ba của
Bridgewater, cuối cùng qua đời, cậu bé Rupert mười sáu tuổi trở thành Tử
tước Hampton trong lúc Charles thừa hưởng một tước hiệu vô nghĩa.
Honorable Charles Hampton thường tức giận mỗi lần nghe cậu anh của
mình được nhiều người lạ thưa gọi một cách cung kính: “Ông chủ”.
Ở Eton, Charles vẫn tiếp tục xuất sắc và kết thúc những ngày ở trường
với chức Chủ tịch câu lạc bộ Pop độc đáo ở Eton trước khi được đề nghị một
chỗ ở Christ Church, Oxford, để học lịch sử. Rupert cũng học qua những
năm tương tự nhưng không đạt được một bảng danh dự nào. Tới tuổi mười
tám vị tử tước trẻ quay trở về sản nghiệp của gia đình ở Somerset để trải qua
phần còn lại của đời mình với tư cách một địa chủ. Không một ai được thừa
hưởng hai mươi hai nghìn mẫu đất mà lại bị xem là một nông dân.
Ở Oxford, Charles, thoát khỏi cái bóng của Rupert, tiến bộ với dáng vẻ
của một người nhận thấy trường đại học có một điều gì đó buồn chán. Anh
thường trải qua những ngày trong tuần đọc lịch sử các mối quan hệ, và
những ngày cuối tuần các bữa tiệc ở nhà hoặc đi săn bằng ngựa. Vì không ai
gợi ý rằng Rupert sẽ bước vào thế giới tài chính, người ta đoán rằng ngay sau
khi Charles tốt nghiệp Oxford, anh sẽ kế tục cha anh tại Ngân hàng của dòng
họ Hampton, đầu tiên với tư cách một viên giám đốc rồi lên chức Chủ tịch –
mặc dầu chính Rupert sẽ là người cuối cùng thừa hưởng số cổ phần của gia
đình.
Tuy nhiên, điều phỏng đoán này đã thay đổi khi một buổi tối Honorable
Charles Hampton bị lôi kéo tới Oxford Union, cô ta đã yêu cầu anh đến nghe
Sir Winston Churchil [[vi]] xuất hiện trước công chúng để thảo luận chủ đề:
“Tôi thà làm một thường dân hơn là một người quý tộc”.
Charles ngồi ở phía sau một gian đại sảnh đông nghẹt những sinh viên
đầy nhiệt huyết như bị mê hoặc bởi bài phát biểu của nhà lãnh tụ. Anh đã
không bao giờ rời mắt dù chỉ một lần khỏi vị lãnh đạo chiến tranh vĩ đại
trong suốt bài diễn văn vừa hóm hỉnh vừa hùng hồn của ông, mặc dầu điều
vẫn lướt qua tâm trí anh là sự nhận thức rằng, nếu không có một sự tình cờ
về việc ra đời, Churchil chắc đã là vị Công tước Marlborough. Đây là một
con người đã chi phối sân khấu thế giới trong ba thập kỷ rồi sau đó gạt bỏ
mọi vinh dự kế truyền mà một đất nước chịu ơn có thể ban tặng, kể cả tước
vị Công tước London.
Charles không bao giờ tự cho phép mình đề cập tới tước vị của anh nữa.
Kể từ lúc đó, tham vọng tột bực của anh không phải chỉ là các tước vị.
Một sinh viên khác lắng nghe Churchil đêm hôm ấy cũng đang suy xét
tương lai của chính mình. Nhưng anh không quan tâm những lời lẽ nhồi nhét
như các bạn của anh ở cuối gian đại sảnh đông đúc. Chàng thanh niên cao
lớn mặc áo khoác dài và mang cà vạt trắng ngồi một mình trong một chiếc
ghế rộng lớn trên bục cao, vì anh chính là Chủ tịch của Oxford Union. Dáng
dấp đẹp trai một cách tự nhiên của anh không liên quan tới việc tuyển cử bởi
vì phụ nữ vẫn còn không thể trở thành Hội viên.
Simon Kerslake không có được các lợi thế của Charles Hampton, là con
trai độc nhất của một luật sư gia đình, anh đã hiểu được cha anh đã phải tự
hạn chế như thế nào để đảm bảo cho con trai của mình phải luôn được học
trong trường công ở địa phương. Cha anh đã qua đời trong lúc mẹ anh đang
học năm cuối ở trường, để lại cho mẹ anh một khoản trợ cấp hàng năm thật
nhỏ và một đồng hồ treo tường tuyệt đẹp của ông nội Mackinley. Mẹ của
Simon bán chiếc đồng hồ một tuần sau đám tang để cho con trai bà có thể
hoàn tất năm học cuối cùng với tất cả những món “phụ phí” mà các học sinh
khác cho là đương nhiên. Bà cũng hy vọng rằng điều đó sẽ giúp Simon có cơ
may tiếp tục lên đại học.
Từ ngày đầu tiên biết đi, Simon vẫn luôn luôn muốn vượt xa những cậu
bé cùng tuổi. Người Mỹ chắc sẽ mô tả cậu như một kẻ “thành đạt”, trong lúc
nhiều người nghĩ về cậu như một kẻ huênh hoang, hoặc thậm chí ngạo mạn,
theo bản tính ganh tị của họ. Trong học kỳ cuối cùng của cậu ở Lancing,
Simon đã bị mất chức Trưởng trường, và mãi mãi nhận thấy mình không thể
tha thứ cho ông hiệu trưởng về sự thiếu lo xa của ông. Sau đó trong năm ấy,
cậu hụt mất một chỗ ở trường Đại học Magdalen của Oxford. Đó là một
quyết định mà Simon không muốn chấp nhận.
Trong cùng chuyến thư đó, trường Đại học Durham tặng anh một học
bổng mà anh đã viết thư từ chối “Các Thủ tướng tương lai không ai lại học ở
Durham”. Anh thông báo với mẹ.
- Còn Cambridge thì sao? – Mẹ anh nhẹ nhàng hỏi.
- Không có truyền thống chính trị, Simon đáp.
- Nhưng nếu không có may mắn được một chỗ ở Oxford, chắc là…?
- Đó không phải là điều con nói, mẹ à, - chàng thanh niên trả lời. – Con sẽ
là một sinh viên tại Oxford vào ngày đầu tiên của học kỳ.
Sau mười tám năm thắng lợi viển vông, bà Kerslake đã rút kinh nghiệm
nên ngừng hỏi con: “Làm sao con xoay xở được việc đó?”.
Mười bốn ngày trước khi bắt đầu kỳ nghỉ lễ Noel tại Oxford, Simon
đăng ký ở trong một nhà khách nhỏ chỉ cách đường Iffley một khoảng. Trên
một cái bàn được kê bằng một bộ ngựa gỗ trong góc phòng trọ mà anh định
sử dụng lâu dài, anh viết ra một danh sách tất cả các trường Đại học ở
Oxford, rồi chia chúng thành năm cột, dự tính sẽ đến ba trường mỗi buổi
sáng và ba trường mỗi buổi chiều cho đến khi câu hỏi của anh đã được trả lời
một cách rõ ràng bởi một thầy trợ giáo nội trú phụ trách tiếp nhận: “ Năm
nay trường có tiếp nhận sinh viên năm thứ nhất nào mà lúc này vẫn không
thể đến trình diện hay không?”.
Vào buổi chiều ngày thứ bốn, ngay khi mối nghi ngờ đang bắt đầu phát
sinh và Simon đang tự hỏi phải chăng xét cho cùng anh sẽ phải đi đến
Cambridge tuần tới, nơi anh vừa nhận được giấy gọi nhập học đầu tiên.
Vị trợ giáo phụ trách tiếp nhận ở trường Đại học Worcester nhấc cặp
kính khỏi chóp mũi và chăm chú nhìn lên cậu thanh niên cao lớn có mớ tóc
đen xõa trên trán. Cặp mắt nâu cuồng nhiệt của cậu thanh niên vẫn không rời
khỏi vị trợ giáo. Alan Brown là vị trợ giáo thứ hai mươi hai mà Simon
Kerslake đã tìm đến trong bốn ngày.
- Có, ông trả lời. – Đã có một chuyện đau buồn xảy đến: một em ở trường
Trung học Nottingham, đã được nhận vào học ở đây, vừa chết trong một
tai nạn xe gắn máy tháng trước.
- Anh ấy đã định học lớp… môn nào, thưa thầy? – Simon hỏi với giọng
ngập ngừng một cách khác thường.
Anh cầu nguyện đó không phải là hóa học, kiến trúc hoặc văn học cổ
điển. Alan Brown xem qua tập hồ sơ trên bàn, rõ ràng thích thú với trò đối
chất nhỏ này. Ông nhìn kỹ vào một tấm thẻ trước mặt ông.
- Lịch sử, - ông thông báo.
Nhịp tim của Simon chợt lên tới một trăm hai mươi.
- Em vừa hụt mỗ chỗ ở Magdalen để học chính trị, triết học và kinh tế, anh nói. – Thầy có thể cho em thế vào chỗ trống đó không ạ?
Ông già không thể che giấu một nụ cười. Trong hai mươi bốn năm qua,
ông chưa bao giờ nghe thấy một đề nghị như thế.
- Tên họ của em là gì? – Ông vừa nói vừa đeo lại kính tựa hồ công việc
nghiêm túc của cuộc gặp gỡ lúc này đã bắt đầu.
- Simon John Kerslake.
Tiến sĩ Brown liền nhấc máy điện thoại bên cạnh ông và quay một số.
- Nigel đó à? – Ông nói. – Đây là Alan Brown. Anh đã từng xem xét
việc thu nhận một người tên Kerslake vào học ở Magdalen phải không?
Bà Kerslake không ngạc nhiên khi cậu con trai của bà tiếp tục giữ chức
Chủ tịch của Oxford Union. Xét cho cùng, bà nghĩ, có phải đây chỉ là một
bàn đạp nữa trên con đường đến chức Thủ tướng – Gladstone [[vii]], Asquith
[[viii]]… Kerslake?
Ray Gould ra đời trong một căn phòng nhỏ kín không có cửa sổ phía trên
cửa hàng thịt của cha cậu ở Leeds. Trong chín năm đầu tiên của đời mình
cậu đã sống chung trong căn phòng đó với người bà đau yếu của cậu, cho
đến khi cụ qua đời ở tuổi sáu mươi mốt.
Việc gần gũi của Ray với bà cụ đã mất chồng trong Chiến tranh thế giới
lần thứ nhất, thoạt tiên có vẻ lãng mạn đối với cậu. Cậu thường lắng nghe hết
sức thích thú trong lúc bà kể cho cậu những câu chuyện về ông cậu trong bộ
đồng phục kaki chỉnh tề - một bộ đồng phục hiện giờ được xếp một cách
ngay ngắn trong ngăn kéo phòng ngủ của bà, nhưng vẫn còn trưng bày trong
bức ảnh màu nâu đã phai mờ bên cạnh giường bà. Tuy nhiên, chẳng bao lâu
sau các câu chuyện của bà khiến cho lòng Ray tràn đầy buồn bã trong lúc
cậu hay biết rằng bà đã trở thành một người vợ góa trong gần ba chục năm.
Cuối cùng trông bà thật là thảm hại khi cậu nhận thức được rằng bà có kinh
nghiệm thật ít ỏi như thế nào về thế giới bên kia căn phòng chật chội, trong
đó và đã bị vây bọc bởi tất cả các vật sở hữu của bà và một chiếc phong bì
ngả màu vàng đựng năm trăm tấm trái phiếu chiến tranh không thể đổi thành
tiền.
Bà nội của Ray không hề có ý định làm một bản chúc thư, bởi vì tất cả
những gì cậu thừa hưởng chỉ là căn phòng. Ban đêm nó không còn là một
phòng ngủ đôi mà trở thành một phòng học, đầy những sách mượn ở thư
viện và sách giáo khoa, loại sau thường trả trễ, tận dụng hết những món tiền
túi vụn vặt ít ỏi của Ray. Nhưng cứ mỗi báo cáo của nhà trường được gửi về
nhà, cha của Ray lại càng thấy rõ hơn rằng ông sẽ không nới rộng tấm bảng
hiệu phía trên cửa hàng thịt để thay bằng hàng chữ “Gould và con trai”.
Lúc mười một tuổi, Ray nhận được học bổng cao nhất vào trường Trung
học Roundhay. Mặc chiếc quần dài đầu tiên – đã được mẹ cậu cắt ngắn bớt
mấy inch – và mang cặp kính gọng sừng không thích hợp một chút nào, cậu
lên đường đến trường mới vào ngày khai giảng. Mẹ Ray hy vọng còn có các
cậu bé khác cũng gầy gò và đầy mụn như con bà, và mái tóc đỏ gợn sóng của
con sẽ không khiến cho cậu liên tục bị chọc ghẹo.
Vào cuối học kỳ đầu tiên, Ray ngạc nhiên vì cậu vượt xa các bạn cùng
tuổi, quả thực xa đến nỗi ông Hiệu trưởng phải thận trọng đặt cậu lên một
dạng “cần để cho cậu bé thư giãn một chút” như ông giải thích với cha mẹ
của Ray. Vào cuối năm, người ta dùng thì giờ chủ yếu trong lớp học, Ray
được xếp thứ ba trong lớp, và đứng nhất tiếng La tinh về tiếng Anh. Chỉ khi
xảy ra việc chọn lựa các đội thể thao Ray mới phát hiện cậu là hạng bét trong
môn này. Tuy nhiên trí tuệ của cậu vẫn luôn luôn sắc sảo, dường như không
hề phù hợp với cơ thể cậu.
Trong bất cứ trường hợp nào, sự cạnh tranh duy nhất mà cậu lưu tâm
trong năm ấy là giải thưởng tiểu luận của trường cấp II. Người đoạt giải
thưởng sẽ phải đọc bài thi của mình trước tập thể học sinh và phụ huynh vào
ngày lễ phát thưởng hàng năm. Ngay cả trước khi cậu nộp bài thi, Ray đã
diễn tập nhiều lần trong phòng ngủ vừa là phòng học, sợ rằng cậu sẽ không
được chuẩn bị một cách hoàn chỉnh nếu đợi tới khi công bố người đoạt giải.
Thầy giáo dạy nghi thức của Ray đã nói cho tất cả học sinh biết rằng chủ
đề của bài tiểu luận có thể do các cậu tùy ý chọn, nhưng cần phải cố hồi
tưởng một kinh nghiệm nào đó độc nhất đối với các cậu. Sau khi đọc bài
thuật lại cuộc đời của bà nội cậu trong căn phòng nhỏ phía trên cửa hàng thịt,
thầy giáo dạy nghi thức không muốn xem một bài nào nữa. Tuy nhiên ông
vẫn phải chật vật đọc hết các bài còn lại theo đúng nhiệm vụ của mình, và
ông đã không do dự đề nghị trao giải thưởng cho bài tiểu luận của Gould. Sự
dè dặt duy nhất, ông nhìn nhận với Ray, là việc lựa chọn đầu đề. Ray cám ơn
ông về lời khuyên đó nhưng đầu đề vẫn giữ nguyên.
Vào buổi sáng lễ phát thưởng, gian đại sảnh của trường chật ních với
chín trăm học sinh và phụ huynh. Sau khi ông hiệu trưởng đọc bài diễn văn
và tiếng vỗ tay lắng xuống, ông thông báo:
- Bây giờ tôi sẽ mời học sinh đoạt giải thưởng tiểu luận lên đọc bài thi
của cậu. Ray Gould.
Ray liền rời khỏi chỗ và bước một cách tự tin lên sân khấu. Cậu chăm
chú nhìn xuống hai nghìn khuôn mặt chờ đợi và không tỏ vẻ lo sợ một chút
nào, một phần vì cậu khó nhìn rõ quá khỏi hàng thứ ba. Khi cậu thông báo
đầu đề của bài tiểu luận, một số cậu bé nhỏ tuổi hơn bắt đầu cười khẩy,
khiến Ray ấp úng mấy dòng đầu tiên. Nhưng lúc cậu đọc tới trang cuối cả
gian đại sảnh đông nghịt im phăng phắc, và sau khi cậu kết thúc đoạn cuối
cậu đã được cử tọa đứng dậy vỗ tay tán thưởng lần đầu tiên trong đời.
Cậu bé mười hai tuổi Ray Gould rời sân khấu để trở về chỗ ngồi bên
cạnh cha mẹ. Đầu của mẹ cậu cúi xuống nhưng cậu vẫn có thể trông thấy
nước mắt chảy dài trên má. Cha cậu thì cố không tỏ ra quá hãnh diện. Ngay
cả khi Ray đã ngồi xuống, tiếng vỗ tay vẫn còn tiếp tục, vì thế cậu cũng cúi
đầu xuống như thể chăm chú nhìn vào đầu đề của bài tiểu luận đoạt giải
thưởng: “ Những đổi thay đầu tiên tôi sẽ tạo nên khi tôi trở thành Thủ
tướng”.
2
Thứ Năm, ngày 10-12-1994
Vị chủ trì hội nghị đứng dậy và quan sát các Nghị viên. Ông giật mạnh chiếc
áo choàng dài bằng lụa đen, rồi bồn chồn vặn bộ tóc giả phủ trên cái đầu hói.
Nghị viện Anh đã hầu như không thể kiểm soát trong suốt phiên họp mất trật
tự một cách đặc biệt về các câu hỏi của Thủ tướng và ông vui sướng khi
trông thấy chiếc đồng hồ treo đã chỉ ba giờ rưỡi. Thời gian cần phải chuyển
sang công việc tiếp theo của ngày hôm ấy.
Ông đứng chuyển đổi chân liên tục, chờ cho hơn năm trăm thành viên
của Nghị viện hiện diện ổn định chỗ ngồi trước khi ông trang nghiêm lên
tiếng:
- Có thành viên muốn tuyên thệ.
Toàn thể mọi người chuyển cái nhìn từ vị chủ trì Hội nghị về phía cuối
phòng, như một đám người đang xem một trận đấu quần vợt.
Thành viên vừa mới được bầu vào Nghị viện đứng ở cửa vào. Với chiều
cao sáu feet bốn [[ix]], trông anh giống như một người sinh ra với đảng Bảo
thủ trong đầu. Cái đầu quý tộc của anh được đặt trên một thân hình thượng
lưu, một mái tóc vàng được chải một cách tỉ mỉ. Mặc một bộ com lê cài chéo
màu xám sẫm, với một chiếc cà vạt của Vệ binh trung đoàn màu đỏ và xanh,
hai bên là người tiến cử và người ủng hộ anh, Charles Hampton bước lên
bốn bước về phía trước. Như những vệ binh đã được tập luyện kỹ, họ dừng
lại và cúi chào, đoạn tiến tới chiếc bàn dài đặt phía trước ghế của vị chủ trì
Hội nghị giữa hai ghế Nghị viên phía trước. Charles ngạc nhiên vì căn phòng
trong thực tế nhỏ như thế nào: những chiếc ghế của phe Chính phủ và phe
Đối lập ở đối diện nhau chỉ cách nhau một khoảng dài bằng lưỡi kiếm.
Charles chợt nhớ lại rằng trong lịch sử một khoảng dài bằng lưỡi kiếm đã có
một lần đảm bảo sự an toàn của các đối thủ không đội trời chung ngồi đối
diện với nhau.
Rời khỏi hai người bảo lãnh đang theo sát phía sau, anh đi qua cái bàn
dài, bước qua chân của vị Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao trước khi
được thư ký của Nghị viện trao lời thề.
Anh nắm tấm thẻ nhỏ trong bàn tay phải và đọc từng từ một cách quả
quyết như lời thề hôn lễ của anh.
- Tôi, Charles Hampton, xin tuyên thệ tôi sẽ trung thành với Nữ hoàng
Elizabeth, những người kế tục theo đúng pháp luật, vì vậy xin Chúa phù hộ
tôi.
- Nghe, nghe, - những đồng nghiệp của anh thốt lên trong lúc thành viên
mới của Nghị viện cúi xuống để ghi vào Text Roll, một tấm giấy da xếp lại
theo dạng một cuốn sách.
Charles tiếp tục đi về phía ghế của vị chủ trì hội nghị rồi anh dừng lại và
cúi chào.
- Chào mừng ông Hampton vào Nghị viện, - vị chủ trì hội nghị vừa nói
vừa bắt tay anh.– Tôi hy vọng anh sẽ phục vụ Nghị viện trong nhiều năm sắp
tới.
- Xin cảm ơn ông, - Charles nói, và cúi chào một lần cuối trước khi tiếp
tục đi tới khu vực nhỏ phía sau ghế của vị chủ trì hội nghị.
Anh đã tiến hành buổi lễ nhỏ giống hệt như Nghị viên Bảo thủ phụ trách
tổ chức đã diễn tập với anh trong dãy hành lang bên ngoài văn phòng của
ông.
- Chúc mừng chiến thắng tuyệt vời của anh, Charles – vị cựu Thủ tướng
và hiện giờ là lãnh tụ phe Đối lập, Sir Alec Douglas – Home, vừa nói vừa bắt
tay anh một cách nồng nhiệt – Tôi biết anh sẽ có nhiều cống hiến cho đảng
Bảo thủ và đất nước của anh.
- Cảm ơn ông, - vị nghị sĩ mới trả lời.
Sau khi chờ Sir Alec trở lại chỗ của ông trên ghế trước của phe Đối lập,
Charles Hampton bước lên bậc thang của lối đi giữa các ghế để tìm một chỗ
ở hàng ghế dài có màu xanh lá cây ở sau cùng.
Trong hai giờ kế đó anh theo dõi những nghi lễ của Nghị viện với một
tâm trạng vừa thán phục vừa hứng thú.
Anh khâm phục sự thẳng thắn và công bằng của hệ thống Nghị viện
trong cuộc tranh cử sôi nổi trước mắt anh. Đảng Lao động chống lại đảng
Bảo thủ, phe Chính phủ chống lại phe Đối lập, Bộ trưởng thuộc phe Chính
phủ chống lại Bộ trưởng thuộc phe Đối lập. Và như với hai đội bóng đá
Charles biết mọi vị trí đều được kiểm soát. – Bộ trưởng phe Chính phủ liên
tục được Bộ trưởng phe Đối lập xem xét cẩn thận. Anh cũng biết rằng nếu
đảng Bảo thủ thắng thế trong cuộc bầu cử sắp tới, phe Đối lập đã được chuẩn
bị kỹ càng để nắm quyền kiểm soát Chính phủ Lao động sắp mãn nhiệm.
Liếc mắt lên chỗ khách mời, anh trông thấy vợ, Fiona, cha anh, vị Bá
tước thứ mười bốn của Bridge Water, và anh trai của anh, Tử tước Hampton,
tất cả đang chăm chú nhìn xuống anh với niềm kiêu hãnh. Chắc chắn lúc này
không một ai có thể nghi ngờ một chút gì về việc trong hai anh em ai là
người nên thừa hưởng tước vị của gia đình Hampton. Lần đầu tiên trong đời,
anh đã tìm ra một thứ không phải do anh được thừa kế hoặc do chiếm được
mà không cần phải cố gắng.
Charles thoải mái ngồi xuống trên nấc thang đầu tiên.
Raymond Gould chăm chú nhìn xuống tờ giấy mời. Anh chưa bao giờ
trông thấy bên trong của số 10 đường Downing [[x]]. Trong suốt mười ba
năm cuối cùng dưới quyền của đảng Bảo thủ ít người thuộc đảng Lao động
có thể đến đó. Anh chuyển tấm thiệp in nổi qua bàn điểm tâm cho vợ.
- Em nên nhận lời hay từ chối, Ray? – Nàng hỏi bằng giọng nặng miền
Yorkshire.
Nàng là người duy nhất vẫn còn gọi anh là Ray, và ngay cả sự cố gắng
tỏ ra hài hước của nàng lúc này cũng cho anh khó chịu. Những tác giả bi
kịch Hy Lạp đã dựa vào “sai lầm định mệnh” để viết nên các kiệt tác của họ,
và anh tin chắc mình cũng thế.
Anh đã gặp Joyce tại một cuộc khiêu vũ do các nữ y tá của Bệnh viện
Leeds General tổ chức. Anh đã không muốn đi nhưng một người bạn sinh
viên năm thứ hai ở Roundhay thuyết phục anh đó sẽ là một dịp nghỉ ngơi thú
vị. Ở trường, anh vẫn tỏ ra ít quan tâm đến các cô gái, và như mẹ anh thường
nhắc nhở anh, sẽ có nhiều cơ hội tìm bạn một khi anh đã tốt nghiệp. Khi anh
trở thành một sinh viên, anh cảm thấy chắc chắn rằng anh là gã trai tân duy
nhất còn sót lại ở trường Đại học.
Rốt cuộc anh đã ngồi một mình trong góc một căn phòng được trang
hoàng với những bong bóng rủ xuống nhấm nháp một cách buồn phiền một
lon coke qua một ống hút uốn cong. Mỗi lần người bạn học của anh quay
tròn khỏi sàn nhảy, - mỗi lần với một cô gái khác. – Raymond lại toét miệng
cười với bạn. Với cặp kính của hãng y tế Quốc gia nhét trong túi, anh không
sao chắc chắn mình đang mỉm cười với đúng người. Anh bắt đầu nghĩ xem
vào giờ nào anh có thể ra về mà không phải thừa nhận buổi tối là cả sự đầy
ải. Chắc hẳn anh đã hoảng sợ vì lời nói mở đầu của nàng nếu anh không
quen với giọng nói nặng trịch đó.
- Anh ở cùng trường Đại học?
- Cùng với ai? – Anh hỏi mà không nhìn thẳng vào nàng.
- Cùng với bạn anh, - nàng nói.
- Vâng. – anh vừa nói vừa nhìn lên một cô gái mà anh đoán chừng vào
khoảng tuổi anh.
- Em ở Bradford.
- Tôi ở Leeds, - anh nhìn nhận, và trong lúc từng giây trôi qua biết rằng
mặt anh đang đỏ dần lên như mái tóc của anh.
- Giọng anh không giống ở nơi đó một chút nào.
Lời nói đó khiến anh thích thú.
- Tên em là Joyce, - nàng tự nguyện xưng danh.
- Tên tôi là Ray, - anh nói.
- Thích khiêu vũ chứ?
Anh muốn nói cho nàng biết rằng anh ít khi bước lên sàn nhảy, nhưng
anh không có can đảm. Như một con búp bê, anh thấy mình đứng lên và
được nàng dẫn về phía những người đang khiêu vũ. Thật là quá đáng đối với
giả thuyết của anh rằng anh là một người có bản chất lãnh đạo.
Lúc họ đã ở trên sàn nhảy, anh nhìn nàng một cách đứng đắn lần đầu
tiên. Nàng là người mà bất cứ chàng trai Yorkshire nào cũng phải thích.
Nàng cao khoảng 1 bảng[[xi]] và mái tóc màu nâu vàng của nàng buộc lại
thành một cái đuôi ngựa tương họp với đôi mắt màu nâu sẫm được hóa trang
hơi nhiều ở chung quanh. Nàng dùng son môi màu hồng giống như chiếc váy
ngắn của nàng, từ đó lộ ra đôi chân rất quyến rũ. Chúng có vẻ còn quyến rũ
hơn nữa khi nàng xoay tròn theo tiếng nhạc của ban nhạc sinh viên.
Raymond khám phá ra rằng nếu anh xoay Joyce thật nhanh anh có thể trông
thấy phần trên của tất nàng, và anh đã ở lại trên sàn nhảy lâu hơn rất nhiều
so với điều anh nghĩ mình có thể. Sau khi các nhạc công dọn dẹp nhạc cụ
của họ, Joyce đã hôn từ biệt anh trước lúc Ray trở về căn phòng nhỏ của anh
phía trên cửa hàng thịt.
Ngày Chủ nhật kế tiếp, trong một cố gắng chiếm ưu thế, anh đưa Joyce
đi chèo thuyền trên sông Aire, nhưng thành tích của anh ở đó cũng không
khá hơn tài khiêu vũ của anh, và mọi việc trên sông đều khiến anh ngỡ
ngàng, kể cả một người bơi lội rất chì. Anh những tưởng sẽ nghe một tiếng
cười chế nhạo, nhưng Joyce chỉ mỉm cười và nói...
 





