BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH/ HOẠT ĐỘNG CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Images1185292_MY_THUAT_THIEU_NHI_3.jpg CIMG3914jpg.jpg Sam_0077.jpg VietNamtrongDNA.jpg

    TIẾNG ANH TIỂU HỌC

    💕💕 Thư viện mở ra cánh cửa tri thức, nhưng chính người đọc mới quyết định bước đi bao xa.💕Sách dạy ta cách nghĩ, còn đọc sách dạy ta biết tư duy bằng chính trái tim mình.”💕

    Chào mừng 80 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12/1944 - 22/12/2024)

    Vượt Lên Hàng Đầu

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 04h:01' 19-03-2024
    Dung lượng: 1.7 MB
    Số lượt tải: 6
    Số lượt thích: 0 người
    Vượt lên hang đầu


    Jeffrey Archer
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Giới thiệu về nội dung:
    Tiểu thuyết "Vượt Lên Hàng Đầu" là câu chuyện kể về 3 nghị sĩ trẻ thành đạt
    đang trên đường chạy đua vào chức Thủ Tướng. Ai sẽ thắng? Đây là cuộc
    chạy đua đầy mưu mô, không khoan nhượng và... Một điều không thể ngờ là
    những người vợ và những người tình của họ cũng góp phần không nhỏ trong
    sự thắng thua này.
    Đôi nét về tác phẩm “First among equals”:
    Tiểu thuyết First among equals khi xuất bản ở Anh là câu chuyện xung
    quanh cuộc sống cá nhân và sự nghiệp của 4 chính trị gia người Anh (Simon
    Kerslake, Charles Seymour, Raymond Gould và Andrew Fraser) trong giai
    đoạn từ 1964-1991. Tác phẩm xoay quanh cuộc ganh đua để trở thành Thủ
    tướng Vương quốc Anh. Một vài tình huống trong cuốn tiểu thuyết được lấy
    từ sự nghiệp chính trị của chính tác giả lúc mới bước chân vào Hạ viện
    Anh. Trong cuốn tiểu thuyết cũng xuất hiện các nhân vật chính trị của nước
    Anh bao gồm cả Winston Churchill, Alec Douglas-Home, Harold Wilson,
    Edward Heath, Margaret Thatcher...
    Khi được xuất bản tại Hoa Kỳ, cuốn tiểu thuyết đã được viết lại. Theo đó
    câu chuyện xung quanh nhân vật Andrew Fraser bị loại bỏ và chuyển giao
    cho các nhân vật khác, đáng chú ý là Simon Kerslake. Một số sự kiện như:
    thay đổi đối tượng hôn nhân và mất đi người con trai của mình là những sự
    kiện xảy ra với Andrew Fraser trong cuốn sách xuất bản tại Anh thì lại được
    chuyển sang cho Simon trong cuốn xuất bản tại Mỹ.

    Tác giả Jeffrey Archer:
    Jeffrey Archer sinh năm 1940, theo học tại trường Wellington,Somerset và
    Bransenose College, Oxford. Năm 1969, sau khi thắng cử, ông trở thành đại
    biểu trẻ nhất của Hạ nghị viện Anh. Năm 1974, ông viết cuốn tiểu thuyết
    KHÔNG HƠN MỘT XU, KHÔNG KÉM MỘT XU và năm 1976, sau bản
    in đầu tiên, cuốn sách trở nên nổi tiếng, được liên tục tái bản tới nay, được
    dịch ra nhiều thứ tiếng, được đưa lên màn ảnh. Ông chính thức bước vào văn
    chương từ đó và liên tục cho ra mắt độc giả những tác phẩm luôn được liệt
    vào loại bán chạy nhất thế giới như cuốn HAI SỐ PHẬN hay ĐỨA CON
    CỦA SỐ PHẬN... Jeffrey Archer hiện sống ở Luân Ðôn cùng vợ, Mary, và
    hai con, Wil và James.
    Ngoài các truyện dài và kịch bản, Jeffrey Archer còn được biết đến như là
    một trong những cây bút viết truyện ngắn hay nhất thế giới hiện nay. Truyện
    của ông là một chuỗi những pha hồi hộp nghẹt thở, cùng những nút mở bất
    ngờ - mang hơi hướm những truyện trinh thám Anh - hoặc giả những kết
    thúc bi đát để lại một dư hưởng kéo dài trong lòng người đọc như một điều
    gì để suy ngẫm.
    Jeffrey Archer có một cuộc sống đời thường thăng trầm và phức tạp, nhưng
    hơn hết ông là một tác giả tài năng, với những tác phẩm xuất sắc. Nằm trong
    số đó là cuốn tiểu thuyết “Vượt lên hàng đầu” với tựa gốc là “First among
    equals”. VH-P mời các bạn cùng khám phá.



    PHẦN MỞ ĐẦU
    Thứ Bảy, ngày 27-04-1991

    Vua Charles đệ tam đi đến quyết định cuối cùng. Cuộc bỏ phiếu đã diễn ra
    một cách đúng đắn theo sắc lệnh của Hoàng gia. Các phòng đầu phiếu đã
    đóng cửa, các phiếu đã được đếm, các máy điện toán đã tắt, và các chuyên
    gia cũng như các tay nghiệp dư đều ngã quỵ không còn tin vào tai mình khi
    họ nghe kết quả cuối cùng.


    Vị vua mới đã không thể ngủ đêm thứ sáu hôm ấy. Trong lúc ngài vẫn
    còn chưa xem xét lại tất cả khuyến cáo mà những quan cận thần đã đệ trình
    cho ngài trong suốt hai mươi bốn giờ qua. Sự lựa chọn mà ngài cho phép đã
    chẳng đơn giản một chút nào, so với việc ngài vừa mới lên ngôi.


    Mấy phút sau đồng hồ trong tháp Big Ben [[i]] đổ 6 giờ sáng, các Nhật
    báo buổi sáng được đặt ở hành lang bên ngoài phòng ngủ của ngài. Nhà vua
    lặng lẽ ra khỏi giường, mặc áo khoác và mỉm cười với người hầu vừa giật
    nảy mình khi ngài mở cửa. Nhà vua gom các tờ báo và mang tất cả vào
    phòng riêng để cho Hoàng hậu sẽ không bị quấy rầy.


    Ngay sau khi ngài đã yên vị một cách thoải mái trong chiếc ghế bành mà
    ngài thích nhất, ngài giở qua trang xã luận.


    Chỉ có một vấn đề đáng cho ngài quan tâm trong ngày hôm ấy. Tất cả
    báo giới London đều đi đến cùng một kết luận: Kết quả của cuộc bầu cử
    không thể nào gay go hơn, và vị vua mới đã bị đặt vào một tình thế hết sức tế
    nhị về vấn đề ai là người mà ngài sẽ bổ nhiệm làm Thủ tướng.


    Hầu hết các báo vẫn tiếp tục trình bày với Nhà vua khuyến cáo riêng của
    họ về người ngài nên xem xét theo các quan hệ chính trị của riêng họ. Riêng
    tờ Times London không nêu quan điểm như thế, mà chỉ gợi ý rằng Nhà vua
    sẽ phải tỏ ra hết sức can đảm và dũng cảm trong lúc đương đầu với cơn
    khủng hoảng hiến pháp đầu tiên của ngài nếu nền quân chủ cần phải duy trì
    niềm tin trong một thế giới hiện đại


    Vị vua bốn mươi ba tuổi thả mấy tờ báo xuống sàn và xem xét lại một
    lần nữa những vấn đề về nên lựa chọn người nào. Chính trị quả thực là một
    trò chơi kỳ lạ. Mới cách đây một thời gian ngắn rõ ràng đã có tới ba người để
    xem xét, thế rồi đột nhiên một trong số đó không còn là một người thi đấu
    nữa. Hai người còn lại – những người mà ngài nghi ngờ cũng không ngủ
    được đêm hôm ấy – tuy nhiên theo chừng mực nào đấy họ vẫn hết sức giống
    nhau. Cả hai người đó đã vào Hạ nghị viện năm 1964, đã điều khiển sự
    nghiệp sáng chói ở tuổi hai mươi lăm với tư cách thành viên của Nghị viện
    Anh. Họ đã chia nhau giữ các chức vụ Bộ trưởng Thương mại, Quốc phòng,
    Ngoại giao và Tài chính trước khi được bầu làm lãnh tụ Đảng của riêng họ.


    Với tư cách Hoàng tử xứ Wales, Nhà vua đã quan sát cả hai người từ
    nhiều đường biên và dần dần khâm phục những đóng góp khác nhau của họ

    cho đời sống xã hội. Ngay thẳng mà nói, ngài phải thừa nhận ngài vẫn luôn
    luôn thích một người và trọng người kia.


    Nhà vua xem đồng hồ tay rồi bấm một cái chuông trên chiếc bàn bên
    cạnh ngài. Một người hầu mặc bộ đồng phục màu xanh dương bước vào
    phòng như thể anh ta đang chờ đợi bên ngoài cửa suốt đêm. Anh ta bắt đầu
    bày bộ y phục sáng ra trong lúc vị quân vương đi vào phòng bên cạnh, ở đó
    mọi thứ để cho ngài tắm đã sẵn sàng. Khi Nhà vua trở lại, ngài mặc áo quần
    trong im lặng trước khi ngồi vào một cái bàn nhỏ bên cạnh cửa sổ để được
    phục vụ bữa điểm tâm. Ngài ăn một mình. Ngài đã để lại chỉ thị dứt khoát
    rằng không một người con nào được phép quấy rầy ngài.


    Lúc tám giờ ngài lui về phòng đọc để nghe bản tin buổi sáng. Không có
    gì mới lạ. Các bình luận viên lúc này chỉ chờ xem ai là người sẽ được ngài
    mời vào Hoàng cung để hôn tay.


    Lúc chín giờ mười lăm ngài nhấc điện thoại lên.
    - Ông hãy lên ngay, - ngài chỉ nói như thế.


    Một lát sau viên bí thư riêng của Nhà vua bước vào phòng. Ông ta cúi
    đầu chào, nhưng không nói gì, ông ta có thể thấy vị quân vương có vẻ đang
    bận tâm đến một chuyện gì đó. Mãi một hồi lâu sau ngài mới lên tiếng:
    - Tôi đã đi đến quyết định, - ngài thanh thản nói.


    PHẦN MỘT
    Dân biểu (1964 – 1966)

    1

    Nếu Charles Gurney Hampton chào đời sớm hơn chín phút chắc là anh đã trở
    thành một bá tước và thừa hưởng một lâu đài ở Scotland, hai mươi hai nghìn
    mẫu [[ii]] đất ở Somerset [[iii]] và một ngân hàng Thương mại phát đạt ở
    London.


    Phải mất mấy năm sau cậu bé Charles mới hiểu được ý nghĩa đầy đủ về
    việc đến đích thứ hai trong cuộc chạy đua đầu tiên của đời mình.


    Người anh song sinh với cậu, Rupert sống sót qua cuộc thử thách này, và
    trong những năm kế tiếp chẳng những ốm đau mà còn bị thêm bệnh ban đỏ,
    bệnh bạch cầu và bệnh viêm màng não, khiến cho mẹ cậu, bà Hampton, luôn
    luôn lo sợ không qua khỏi.


    Charles thì trái hẳn lại vẫn tồn tại và đã thừa hưởng tham vọng của dòng
    họ Hampton đối với cả người anh và bản thân cậu. Chỉ ít năm sau những
    người có cơ hội tiếp xúc với hai anh em lần đầu tiên đã tưởng lầm Charles là
    người thừa kế tước vị bá tước.



    Suốt những năm dài, cha của Charles hết sức cố gắng khám phá một
    điều gì đó mà Rupert có thể vượt trội hơn cậu – và ông đã thất bại. Khi lên
    tám, cả hai cậu vào trường Sơ cấp tư [[iv]] ở Summerfields, nơi đây nhiều
    thế hệ của dòng họ Hampton đã từng được chuẩn bị cho những khuôn khổ
    khắc nghiệt của Eton [[v]].


    Trong tháng đầu tiên ở trường Charles đã được bầu làm lớp trưởng, và
    không một ai cản trở tiến bộ của cậu trên đường trở thành Trưởng khối học
    sinh ở lứa tuổi mười hai, vào thời gian đó Rupert đã bị xem là “cậu em
    Hampton”. Cả hai cậu bé tiếp tục vào Eton, nơi đây trong học kỳ đầu tiên
    Charles đã đánh bại Rupert với từng môn học, chèo xuồng nhanh hơn cậu
    anh trên sông và gần như đánh chết cậu anh trong lúc đấu quyền Anh.


    Năm 1947, khi ông nội của hai cậu, vị Bá tước thứ mười ba của
    Bridgewater, cuối cùng qua đời, cậu bé Rupert mười sáu tuổi trở thành Tử
    tước Hampton trong lúc Charles thừa hưởng một tước hiệu vô nghĩa.


    Honorable Charles Hampton thường tức giận mỗi lần nghe cậu anh của
    mình được nhiều người lạ thưa gọi một cách cung kính: “Ông chủ”.


    Ở Eton, Charles vẫn tiếp tục xuất sắc và kết thúc những ngày ở trường
    với chức Chủ tịch câu lạc bộ Pop độc đáo ở Eton trước khi được đề nghị một
    chỗ ở Christ Church, Oxford, để học lịch sử. Rupert cũng học qua những

    năm tương tự nhưng không đạt được một bảng danh dự nào. Tới tuổi mười
    tám vị tử tước trẻ quay trở về sản nghiệp của gia đình ở Somerset để trải qua
    phần còn lại của đời mình với tư cách một địa chủ. Không một ai được thừa
    hưởng hai mươi hai nghìn mẫu đất mà lại bị xem là một nông dân.


    Ở Oxford, Charles, thoát khỏi cái bóng của Rupert, tiến bộ với dáng vẻ
    của một người nhận thấy trường đại học có một điều gì đó buồn chán. Anh
    thường trải qua những ngày trong tuần đọc lịch sử các mối quan hệ, và
    những ngày cuối tuần các bữa tiệc ở nhà hoặc đi săn bằng ngựa. Vì không ai
    gợi ý rằng Rupert sẽ bước vào thế giới tài chính, người ta đoán rằng ngay sau
    khi Charles tốt nghiệp Oxford, anh sẽ kế tục cha anh tại Ngân hàng của dòng
    họ Hampton, đầu tiên với tư cách một viên giám đốc rồi lên chức Chủ tịch –
    mặc dầu chính Rupert sẽ là người cuối cùng thừa hưởng số cổ phần của gia
    đình.


    Tuy nhiên, điều phỏng đoán này đã thay đổi khi một buổi tối Honorable
    Charles Hampton bị lôi kéo tới Oxford Union, cô ta đã yêu cầu anh đến nghe
    Sir Winston Churchil [[vi]] xuất hiện trước công chúng để thảo luận chủ đề:
    “Tôi thà làm một thường dân hơn là một người quý tộc”.


    Charles ngồi ở phía sau một gian đại sảnh đông nghẹt những sinh viên
    đầy nhiệt huyết như bị mê hoặc bởi bài phát biểu của nhà lãnh tụ. Anh đã
    không bao giờ rời mắt dù chỉ một lần khỏi vị lãnh đạo chiến tranh vĩ đại
    trong suốt bài diễn văn vừa hóm hỉnh vừa hùng hồn của ông, mặc dầu điều
    vẫn lướt qua tâm trí anh là sự nhận thức rằng, nếu không có một sự tình cờ

    về việc ra đời, Churchil chắc đã là vị Công tước Marlborough. Đây là một
    con người đã chi phối sân khấu thế giới trong ba thập kỷ rồi sau đó gạt bỏ
    mọi vinh dự kế truyền mà một đất nước chịu ơn có thể ban tặng, kể cả tước
    vị Công tước London.


    Charles không bao giờ tự cho phép mình đề cập tới tước vị của anh nữa.
    Kể từ lúc đó, tham vọng tột bực của anh không phải chỉ là các tước vị.


    Một sinh viên khác lắng nghe Churchil đêm hôm ấy cũng đang suy xét
    tương lai của chính mình. Nhưng anh không quan tâm những lời lẽ nhồi nhét
    như các bạn của anh ở cuối gian đại sảnh đông đúc. Chàng thanh niên cao
    lớn mặc áo khoác dài và mang cà vạt trắng ngồi một mình trong một chiếc
    ghế rộng lớn trên bục cao, vì anh chính là Chủ tịch của Oxford Union. Dáng
    dấp đẹp trai một cách tự nhiên của anh không liên quan tới việc tuyển cử bởi
    vì phụ nữ vẫn còn không thể trở thành Hội viên.


    Simon Kerslake không có được các lợi thế của Charles Hampton, là con
    trai độc nhất của một luật sư gia đình, anh đã hiểu được cha anh đã phải tự
    hạn chế như thế nào để đảm bảo cho con trai của mình phải luôn được học
    trong trường công ở địa phương. Cha anh đã qua đời trong lúc mẹ anh đang
    học năm cuối ở trường, để lại cho mẹ anh một khoản trợ cấp hàng năm thật
    nhỏ và một đồng hồ treo tường tuyệt đẹp của ông nội Mackinley. Mẹ của
    Simon bán chiếc đồng hồ một tuần sau đám tang để cho con trai bà có thể
    hoàn tất năm học cuối cùng với tất cả những món “phụ phí” mà các học sinh
    khác cho là đương nhiên. Bà cũng hy vọng rằng điều đó sẽ giúp Simon có cơ

    may tiếp tục lên đại học.


    Từ ngày đầu tiên biết đi, Simon vẫn luôn luôn muốn vượt xa những cậu
    bé cùng tuổi. Người Mỹ chắc sẽ mô tả cậu như một kẻ “thành đạt”, trong lúc
    nhiều người nghĩ về cậu như một kẻ huênh hoang, hoặc thậm chí ngạo mạn,
    theo bản tính ganh tị của họ. Trong học kỳ cuối cùng của cậu ở Lancing,
    Simon đã bị mất chức Trưởng trường, và mãi mãi nhận thấy mình không thể
    tha thứ cho ông hiệu trưởng về sự thiếu lo xa của ông. Sau đó trong năm ấy,
    cậu hụt mất một chỗ ở trường Đại học Magdalen của Oxford. Đó là một
    quyết định mà Simon không muốn chấp nhận.


    Trong cùng chuyến thư đó, trường Đại học Durham tặng anh một học
    bổng mà anh đã viết thư từ chối “Các Thủ tướng tương lai không ai lại học ở
    Durham”. Anh thông báo với mẹ.
    - Còn Cambridge thì sao? – Mẹ anh nhẹ nhàng hỏi.
    - Không có truyền thống chính trị, Simon đáp.
    - Nhưng nếu không có may mắn được một chỗ ở Oxford, chắc là…?
    - Đó không phải là điều con nói, mẹ à, - chàng thanh niên trả lời. – Con sẽ
    là một sinh viên tại Oxford vào ngày đầu tiên của học kỳ.


    Sau mười tám năm thắng lợi viển vông, bà Kerslake đã rút kinh nghiệm
    nên ngừng hỏi con: “Làm sao con xoay xở được việc đó?”.


    Mười bốn ngày trước khi bắt đầu kỳ nghỉ lễ Noel tại Oxford, Simon
    đăng ký ở trong một nhà khách nhỏ chỉ cách đường Iffley một khoảng. Trên

    một cái bàn được kê bằng một bộ ngựa gỗ trong góc phòng trọ mà anh định
    sử dụng lâu dài, anh viết ra một danh sách tất cả các trường Đại học ở
    Oxford, rồi chia chúng thành năm cột, dự tính sẽ đến ba trường mỗi buổi
    sáng và ba trường mỗi buổi chiều cho đến khi câu hỏi của anh đã được trả lời
    một cách rõ ràng bởi một thầy trợ giáo nội trú phụ trách tiếp nhận: “ Năm
    nay trường có tiếp nhận sinh viên năm thứ nhất nào mà lúc này vẫn không
    thể đến trình diện hay không?”.


    Vào buổi chiều ngày thứ bốn, ngay khi mối nghi ngờ đang bắt đầu phát
    sinh và Simon đang tự hỏi phải chăng xét cho cùng anh sẽ phải đi đến
    Cambridge tuần tới, nơi anh vừa nhận được giấy gọi nhập học đầu tiên.


    Vị trợ giáo phụ trách tiếp nhận ở trường Đại học Worcester nhấc cặp
    kính khỏi chóp mũi và chăm chú nhìn lên cậu thanh niên cao lớn có mớ tóc
    đen xõa trên trán. Cặp mắt nâu cuồng nhiệt của cậu thanh niên vẫn không rời
    khỏi vị trợ giáo. Alan Brown là vị trợ giáo thứ hai mươi hai mà Simon
    Kerslake đã tìm đến trong bốn ngày.
    - Có, ông trả lời. – Đã có một chuyện đau buồn xảy đến: một em ở trường
    Trung học Nottingham, đã được nhận vào học ở đây, vừa chết trong một
    tai nạn xe gắn máy tháng trước.
    - Anh ấy đã định học lớp… môn nào, thưa thầy? – Simon hỏi với giọng
    ngập ngừng một cách khác thường.


    Anh cầu nguyện đó không phải là hóa học, kiến trúc hoặc văn học cổ
    điển. Alan Brown xem qua tập hồ sơ trên bàn, rõ ràng thích thú với trò đối

    chất nhỏ này. Ông nhìn kỹ vào một tấm thẻ trước mặt ông.
    - Lịch sử, - ông thông báo.


    Nhịp tim của Simon chợt lên tới một trăm hai mươi.
    - Em vừa hụt mỗ chỗ ở Magdalen để học chính trị, triết học và kinh tế, anh nói. – Thầy có thể cho em thế vào chỗ trống đó không ạ?


    Ông già không thể che giấu một nụ cười. Trong hai mươi bốn năm qua,
    ông chưa bao giờ nghe thấy một đề nghị như thế.
    - Tên họ của em là gì? – Ông vừa nói vừa đeo lại kính tựa hồ công việc
    nghiêm túc của cuộc gặp gỡ lúc này đã bắt đầu.
    - Simon John Kerslake.
    Tiến sĩ Brown liền nhấc máy điện thoại bên cạnh ông và quay một số.
    - Nigel đó à? – Ông nói. – Đây là Alan Brown. Anh đã từng xem xét
    việc thu nhận một người tên Kerslake vào học ở Magdalen phải không?


    Bà Kerslake không ngạc nhiên khi cậu con trai của bà tiếp tục giữ chức
    Chủ tịch của Oxford Union. Xét cho cùng, bà nghĩ, có phải đây chỉ là một
    bàn đạp nữa trên con đường đến chức Thủ tướng – Gladstone [[vii]], Asquith
    [[viii]]… Kerslake?
    Ray Gould ra đời trong một căn phòng nhỏ kín không có cửa sổ phía trên
    cửa hàng thịt của cha cậu ở Leeds. Trong chín năm đầu tiên của đời mình
    cậu đã sống chung trong căn phòng đó với người bà đau yếu của cậu, cho
    đến khi cụ qua đời ở tuổi sáu mươi mốt.



    Việc gần gũi của Ray với bà cụ đã mất chồng trong Chiến tranh thế giới
    lần thứ nhất, thoạt tiên có vẻ lãng mạn đối với cậu. Cậu thường lắng nghe hết
    sức thích thú trong lúc bà kể cho cậu những câu chuyện về ông cậu trong bộ
    đồng phục kaki chỉnh tề - một bộ đồng phục hiện giờ được xếp một cách
    ngay ngắn trong ngăn kéo phòng ngủ của bà, nhưng vẫn còn trưng bày trong
    bức ảnh màu nâu đã phai mờ bên cạnh giường bà. Tuy nhiên, chẳng bao lâu
    sau các câu chuyện của bà khiến cho lòng Ray tràn đầy buồn bã trong lúc
    cậu hay biết rằng bà đã trở thành một người vợ góa trong gần ba chục năm.
    Cuối cùng trông bà thật là thảm hại khi cậu nhận thức được rằng bà có kinh
    nghiệm thật ít ỏi như thế nào về thế giới bên kia căn phòng chật chội, trong
    đó và đã bị vây bọc bởi tất cả các vật sở hữu của bà và một chiếc phong bì
    ngả màu vàng đựng năm trăm tấm trái phiếu chiến tranh không thể đổi thành
    tiền.


    Bà nội của Ray không hề có ý định làm một bản chúc thư, bởi vì tất cả
    những gì cậu thừa hưởng chỉ là căn phòng. Ban đêm nó không còn là một
    phòng ngủ đôi mà trở thành một phòng học, đầy những sách mượn ở thư
    viện và sách giáo khoa, loại sau thường trả trễ, tận dụng hết những món tiền
    túi vụn vặt ít ỏi của Ray. Nhưng cứ mỗi báo cáo của nhà trường được gửi về
    nhà, cha của Ray lại càng thấy rõ hơn rằng ông sẽ không nới rộng tấm bảng
    hiệu phía trên cửa hàng thịt để thay bằng hàng chữ “Gould và con trai”.


    Lúc mười một tuổi, Ray nhận được học bổng cao nhất vào trường Trung
    học Roundhay. Mặc chiếc quần dài đầu tiên – đã được mẹ cậu cắt ngắn bớt
    mấy inch – và mang cặp kính gọng sừng không thích hợp một chút nào, cậu

    lên đường đến trường mới vào ngày khai giảng. Mẹ Ray hy vọng còn có các
    cậu bé khác cũng gầy gò và đầy mụn như con bà, và mái tóc đỏ gợn sóng của
    con sẽ không khiến cho cậu liên tục bị chọc ghẹo.


    Vào cuối học kỳ đầu tiên, Ray ngạc nhiên vì cậu vượt xa các bạn cùng
    tuổi, quả thực xa đến nỗi ông Hiệu trưởng phải thận trọng đặt cậu lên một
    dạng “cần để cho cậu bé thư giãn một chút” như ông giải thích với cha mẹ
    của Ray. Vào cuối năm, người ta dùng thì giờ chủ yếu trong lớp học, Ray
    được xếp thứ ba trong lớp, và đứng nhất tiếng La tinh về tiếng Anh. Chỉ khi
    xảy ra việc chọn lựa các đội thể thao Ray mới phát hiện cậu là hạng bét trong
    môn này. Tuy nhiên trí tuệ của cậu vẫn luôn luôn sắc sảo, dường như không
    hề phù hợp với cơ thể cậu.


    Trong bất cứ trường hợp nào, sự cạnh tranh duy nhất mà cậu lưu tâm
    trong năm ấy là giải thưởng tiểu luận của trường cấp II. Người đoạt giải
    thưởng sẽ phải đọc bài thi của mình trước tập thể học sinh và phụ huynh vào
    ngày lễ phát thưởng hàng năm. Ngay cả trước khi cậu nộp bài thi, Ray đã
    diễn tập nhiều lần trong phòng ngủ vừa là phòng học, sợ rằng cậu sẽ không
    được chuẩn bị một cách hoàn chỉnh nếu đợi tới khi công bố người đoạt giải.


    Thầy giáo dạy nghi thức của Ray đã nói cho tất cả học sinh biết rằng chủ
    đề của bài tiểu luận có thể do các cậu tùy ý chọn, nhưng cần phải cố hồi
    tưởng một kinh nghiệm nào đó độc nhất đối với các cậu. Sau khi đọc bài
    thuật lại cuộc đời của bà nội cậu trong căn phòng nhỏ phía trên cửa hàng thịt,
    thầy giáo dạy nghi thức không muốn xem một bài nào nữa. Tuy nhiên ông

    vẫn phải chật vật đọc hết các bài còn lại theo đúng nhiệm vụ của mình, và
    ông đã không do dự đề nghị trao giải thưởng cho bài tiểu luận của Gould. Sự
    dè dặt duy nhất, ông nhìn nhận với Ray, là việc lựa chọn đầu đề. Ray cám ơn
    ông về lời khuyên đó nhưng đầu đề vẫn giữ nguyên.
    Vào buổi sáng lễ phát thưởng, gian đại sảnh của trường chật ních với
    chín trăm học sinh và phụ huynh. Sau khi ông hiệu trưởng đọc bài diễn văn
    và tiếng vỗ tay lắng xuống, ông thông báo:
    - Bây giờ tôi sẽ mời học sinh đoạt giải thưởng tiểu luận lên đọc bài thi
    của cậu. Ray Gould.


    Ray liền rời khỏi chỗ và bước một cách tự tin lên sân khấu. Cậu chăm
    chú nhìn xuống hai nghìn khuôn mặt chờ đợi và không tỏ vẻ lo sợ một chút
    nào, một phần vì cậu khó nhìn rõ quá khỏi hàng thứ ba. Khi cậu thông báo
    đầu đề của bài tiểu luận, một số cậu bé nhỏ tuổi hơn bắt đầu cười khẩy,
    khiến Ray ấp úng mấy dòng đầu tiên. Nhưng lúc cậu đọc tới trang cuối cả
    gian đại sảnh đông nghịt im phăng phắc, và sau khi cậu kết thúc đoạn cuối
    cậu đã được cử tọa đứng dậy vỗ tay tán thưởng lần đầu tiên trong đời.


    Cậu bé mười hai tuổi Ray Gould rời sân khấu để trở về chỗ ngồi bên
    cạnh cha mẹ. Đầu của mẹ cậu cúi xuống nhưng cậu vẫn có thể trông thấy
    nước mắt chảy dài trên má. Cha cậu thì cố không tỏ ra quá hãnh diện. Ngay
    cả khi Ray đã ngồi xuống, tiếng vỗ tay vẫn còn tiếp tục, vì thế cậu cũng cúi
    đầu xuống như thể chăm chú nhìn vào đầu đề của bài tiểu luận đoạt giải
    thưởng: “ Những đổi thay đầu tiên tôi sẽ tạo nên khi tôi trở thành Thủ
    tướng”.


    2
    Thứ Năm, ngày 10-12-1994

    Vị chủ trì hội nghị đứng dậy và quan sát các Nghị viên. Ông giật mạnh chiếc
    áo choàng dài bằng lụa đen, rồi bồn chồn vặn bộ tóc giả phủ trên cái đầu hói.
    Nghị viện Anh đã hầu như không thể kiểm soát trong suốt phiên họp mất trật
    tự một cách đặc biệt về các câu hỏi của Thủ tướng và ông vui sướng khi
    trông thấy chiếc đồng hồ treo đã chỉ ba giờ rưỡi. Thời gian cần phải chuyển
    sang công việc tiếp theo của ngày hôm ấy.


    Ông đứng chuyển đổi chân liên tục, chờ cho hơn năm trăm thành viên
    của Nghị viện hiện diện ổn định chỗ ngồi trước khi ông trang nghiêm lên
    tiếng:
    - Có thành viên muốn tuyên thệ.
    Toàn thể mọi người chuyển cái nhìn từ vị chủ trì Hội nghị về phía cuối
    phòng, như một đám người đang xem một trận đấu quần vợt.


    Thành viên vừa mới được bầu vào Nghị viện đứng ở cửa vào. Với chiều
    cao sáu feet bốn [[ix]], trông anh giống như một người sinh ra với đảng Bảo
    thủ trong đầu. Cái đầu quý tộc của anh được đặt trên một thân hình thượng
    lưu, một mái tóc vàng được chải một cách tỉ mỉ. Mặc một bộ com lê cài chéo
    màu xám sẫm, với một chiếc cà vạt của Vệ binh trung đoàn màu đỏ và xanh,
    hai bên là người tiến cử và người ủng hộ anh, Charles Hampton bước lên

    bốn bước về phía trước. Như những vệ binh đã được tập luyện kỹ, họ dừng
    lại và cúi chào, đoạn tiến tới chiếc bàn dài đặt phía trước ghế của vị chủ trì
    Hội nghị giữa hai ghế Nghị viên phía trước. Charles ngạc nhiên vì căn phòng
    trong thực tế nhỏ như thế nào: những chiếc ghế của phe Chính phủ và phe
    Đối lập ở đối diện nhau chỉ cách nhau một khoảng dài bằng lưỡi kiếm.
    Charles chợt nhớ lại rằng trong lịch sử một khoảng dài bằng lưỡi kiếm đã có
    một lần đảm bảo sự an toàn của các đối thủ không đội trời chung ngồi đối
    diện với nhau.


    Rời khỏi hai người bảo lãnh đang theo sát phía sau, anh đi qua cái bàn
    dài, bước qua chân của vị Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao trước khi
    được thư ký của Nghị viện trao lời thề.


    Anh nắm tấm thẻ nhỏ trong bàn tay phải và đọc từng từ một cách quả
    quyết như lời thề hôn lễ của anh.
    - Tôi, Charles Hampton, xin tuyên thệ tôi sẽ trung thành với Nữ hoàng
    Elizabeth, những người kế tục theo đúng pháp luật, vì vậy xin Chúa phù hộ
    tôi.
    - Nghe, nghe, - những đồng nghiệp của anh thốt lên trong lúc thành viên
    mới của Nghị viện cúi xuống để ghi vào Text Roll, một tấm giấy da xếp lại
    theo dạng một cuốn sách.


    Charles tiếp tục đi về phía ghế của vị chủ trì hội nghị rồi anh dừng lại và
    cúi chào.
    - Chào mừng ông Hampton vào Nghị viện, - vị chủ trì hội nghị vừa nói

    vừa bắt tay anh.– Tôi hy vọng anh sẽ phục vụ Nghị viện trong nhiều năm sắp
    tới.
    - Xin cảm ơn ông, - Charles nói, và cúi chào một lần cuối trước khi tiếp
    tục đi tới khu vực nhỏ phía sau ghế của vị chủ trì hội nghị.


    Anh đã tiến hành buổi lễ nhỏ giống hệt như Nghị viên Bảo thủ phụ trách
    tổ chức đã diễn tập với anh trong dãy hành lang bên ngoài văn phòng của
    ông.
    - Chúc mừng chiến thắng tuyệt vời của anh, Charles – vị cựu Thủ tướng
    và hiện giờ là lãnh tụ phe Đối lập, Sir Alec Douglas – Home, vừa nói vừa bắt
    tay anh một cách nồng nhiệt – Tôi biết anh sẽ có nhiều cống hiến cho đảng
    Bảo thủ và đất nước của anh.
    - Cảm ơn ông, - vị nghị sĩ mới trả lời.


    Sau khi chờ Sir Alec trở lại chỗ của ông trên ghế trước của phe Đối lập,
    Charles Hampton bước lên bậc thang của lối đi giữa các ghế để tìm một chỗ
    ở hàng ghế dài có màu xanh lá cây ở sau cùng.


    Trong hai giờ kế đó anh theo dõi những nghi lễ của Nghị viện với một
    tâm trạng vừa thán phục vừa hứng thú.


    Anh khâm phục sự thẳng thắn và công bằng của hệ thống Nghị viện
    trong cuộc tranh cử sôi nổi trước mắt anh. Đảng Lao động chống lại đảng
    Bảo thủ, phe Chính phủ chống lại phe Đối lập, Bộ trưởng thuộc phe Chính
    phủ chống lại Bộ trưởng thuộc phe Đối lập. Và như với hai đội bóng đá

    Charles biết mọi vị trí đều được kiểm soát. – Bộ trưởng phe Chính phủ liên
    tục được Bộ trưởng phe Đối lập xem xét cẩn thận. Anh cũng biết rằng nếu
    đảng Bảo thủ thắng thế trong cuộc bầu cử sắp tới, phe Đối lập đã được chuẩn
    bị kỹ càng để nắm quyền kiểm soát Chính phủ Lao động sắp mãn nhiệm.


    Liếc mắt lên chỗ khách mời, anh trông thấy vợ, Fiona, cha anh, vị Bá
    tước thứ mười bốn của Bridge Water, và anh trai của anh, Tử tước Hampton,
    tất cả đang chăm chú nhìn xuống anh với niềm kiêu hãnh. Chắc chắn lúc này
    không một ai có thể nghi ngờ một chút gì về việc trong hai anh em ai là
    người nên thừa hưởng tước vị của gia đình Hampton. Lần đầu tiên trong đời,
    anh đã tìm ra một thứ không phải do anh được thừa kế hoặc do chiếm được
    mà không cần phải cố gắng.


    Charles thoải mái ngồi xuống trên nấc thang đầu tiên.


    Raymond Gould chăm chú nhìn xuống tờ giấy mời. Anh chưa bao giờ
    trông thấy bên trong của số 10 đường Downing [[x]]. Trong suốt mười ba
    năm cuối cùng dưới quyền của đảng Bảo thủ ít người thuộc đảng Lao động
    có thể đến đó. Anh chuyển tấm thiệp in nổi qua bàn điểm tâm cho vợ.
    - Em nên nhận lời hay từ chối, Ray? – Nàng hỏi bằng giọng nặng miền
    Yorkshire.
    Nàng là người duy nhất vẫn còn gọi anh là Ray, và ngay cả sự cố gắng
    tỏ ra hài hước của nàng lúc này cũng cho anh khó chịu. Những tác giả bi
    kịch Hy Lạp đã dựa vào “sai lầm định mệnh” để viết nên các kiệt tác của họ,
    và anh tin chắc mình cũng thế.



    Anh đã gặp Joyce tại một cuộc khiêu vũ do các nữ y tá của Bệnh viện
    Leeds General tổ chức. Anh đã không muốn đi nhưng một người bạn sinh
    viên năm thứ hai ở Roundhay thuyết phục anh đó sẽ là một dịp nghỉ ngơi thú
    vị. Ở trường, anh vẫn tỏ ra ít quan tâm đến các cô gái, và như mẹ anh thường
    nhắc nhở anh, sẽ có nhiều cơ hội tìm bạn một khi anh đã tốt nghiệp. Khi anh
    trở thành một sinh viên, anh cảm thấy chắc chắn rằng anh là gã trai tân duy
    nhất còn sót lại ở trường Đại học.


    Rốt cuộc anh đã ngồi một mình trong góc một căn phòng được trang
    hoàng với những bong bóng rủ xuống nhấm nháp một cách buồn phiền một
    lon coke qua một ống hút uốn cong. Mỗi lần người bạn học của anh quay
    tròn khỏi sàn nhảy, - mỗi lần với một cô gái khác. – Raymond lại toét miệng
    cười với bạn. Với cặp kính của hãng y tế Quốc gia nhét trong túi, anh không
    sao chắc chắn mình đang mỉm cười với đúng người. Anh bắt đầu nghĩ xem
    vào giờ nào anh có thể ra về mà không phải thừa nhận buổi tối là cả sự đầy
    ải. Chắc hẳn anh đã hoảng sợ vì lời nói mở đầu của nàng nếu anh không
    quen với giọng nói nặng trịch đó.
    - Anh ở cùng trường Đại học?
    - Cùng với ai? – Anh hỏi mà không nhìn thẳng vào nàng.
    - Cùng với bạn anh, - nàng nói.
    - Vâng. – anh vừa nói vừa nhìn lên một cô gái mà anh đoán chừng vào
    khoảng tuổi anh.
    - Em ở Bradford.
    - Tôi ở Leeds, - anh nhìn nhận, và trong lúc từng giây trôi qua biết rằng
    mặt anh đang đỏ dần lên như mái tóc của anh.

    - Giọng anh không giống ở nơi đó một chút nào.
    Lời nói đó khiến anh thích thú.
    - Tên em là Joyce, - nàng tự nguyện xưng danh.
    - Tên tôi là Ray, - anh nói.
    - Thích khiêu vũ chứ?


    Anh muốn nói cho nàng biết rằng anh ít khi bước lên sàn nhảy, nhưng
    anh không có can đảm. Như một con búp bê, anh thấy mình đứng lên và
    được nàng dẫn về phía những người đang khiêu vũ. Thật là quá đáng đối với
    giả thuyết của anh rằng anh là một người có bản chất lãnh đạo.


    Lúc họ đã ở trên sàn nhảy, anh nhìn nàng một cách đứng đắn lần đầu
    tiên. Nàng là người mà bất cứ chàng trai Yorkshire nào cũng phải thích.
    Nàng cao khoảng 1 bảng[[xi]] và mái tóc màu nâu vàng của nàng buộc lại
    thành một cái đuôi ngựa tương họp với đôi mắt màu nâu sẫm được hóa trang
    hơi nhiều ở chung quanh. Nàng dùng son môi màu hồng giống như chiếc váy
    ngắn của nàng, từ đó lộ ra đôi chân rất quyến rũ. Chúng có vẻ còn quyến rũ
    hơn nữa khi nàng xoay tròn theo tiếng nhạc của ban nhạc sinh viên.
    Raymond khám phá ra rằng nếu anh xoay Joyce thật nhanh anh có thể trông
    thấy phần trên của tất nàng, và anh đã ở lại trên sàn nhảy lâu hơn rất nhiều
    so với điều anh nghĩ mình có thể. Sau khi các nhạc công dọn dẹp nhạc cụ
    của họ, Joyce đã hôn từ biệt anh trước lúc Ray trở về căn phòng nhỏ của anh
    phía trên cửa hàng thịt.


    Ngày Chủ nhật kế tiếp, trong một cố gắng chiếm ưu thế, anh đưa Joyce

    đi chèo thuyền trên sông Aire, nhưng thành tích của anh ở đó cũng không
    khá hơn tài khiêu vũ của anh, và mọi việc trên sông đều khiến anh ngỡ
    ngàng, kể cả một người bơi lội rất chì. Anh những tưởng sẽ nghe một tiếng
    cười chế nhạo, nhưng Joyce chỉ mỉm cười và nói...
     
    Gửi ý kiến

    Không có gì có thể thay thế văn hóa đọc (Gunte Grass)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC CẨM THƯỢNG - TP. HẢI PHÒNG!