Chào mừng 80 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12/1944 - 22/12/2024)
Nu Sinh - Dazai Osamu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:23' 07-03-2024
Dung lượng: 846.5 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:23' 07-03-2024
Dung lượng: 846.5 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
NỮ SINH
Tủ sách Tinh hoa Văn học
Nguyên tác: 女生徒
Tác giả: Dazai Osamu
Dịch giả: Hoàng Long
Công ty phát hành: Phương Nam
Nhà xuất bản: NXB Hội Nhà Văn
Trọng lượng vận chuyển: 150 g
Kích thước: 13 x 19 cm
Số trang: 177
Ngày xuất bản: 02/2014
Giá bìa: 47.000₫
Nguồn: http://tve-4u.org
Type+Làm ebook: thanhbt
Ngày hoàn thành: 26/02/2015
Cuốn sách này được giới thiệu ở đây nhằm chia sẻ
cho những bạn không có điều kiện mua sách!
Còn nếu bạn có khả năng hãy mua ủng hộ nha!
Giới thiệu
Hầu hết các truyện trong tuyển tập đều có nhân vật
chính là nữ với những miêu tả tâm lý hết sức tinh tế và
cao sang. Không những thành công với thể loại tự truyện
tư tiểu thuyết, Dazai còn chứng tỏ bản lĩnh bậc thầy của
mình trong việc am hiểu tâm lý phụ nữ xứ Phù Tang.
Qua tác phẩm của Dazai, tâm hồn Nhật Bản; vốn kiềm
nén và khép kín, có thể hiện cũng rất cô đọng, như thơ
Haiku, như kịch No, như phim của Ozu; lại được chuyên
chở qua ngôn ngữ của văn chương một cách dịu dàng
nhưng không kém phần mãnh liệt. Truyện “Nữ sinh”
được dịch từ nguyên tác “Nữ sinh đồ” trong tập truyện
ngắn Nữ Sinh do Nhà xuất bản Kadokawa tái bản có sữa
chữa lần thứ năm năm Bình Thành 21 (2009).
Tác phẩm này được đăng tải lần đầu tiên trên tạp chí
“Văn học giới” số tháng 4 năm 1939. Dựa trên nhật ký
của một độc giả nữ tên là Ariake Shizu (lúc bấy giờ 19
tuổi) gửi cho Dazai vào tháng 9 năm 1938, Dazai đã viết
thành một truyện vừa xuất sắc nói về biến chuyển nội
tâm của một nữ sinh 14 tuổi gói gọn trong vòng một
ngày, từ khi thức dậy đến khi đi ngủ. Tác phẩm khắc
họa rất thành công tâm lý bi quan hay trầm uất của một
thiếu nữ tuổi dậy thì với một văn phong vô cùng tinh tế.
Chính vì vậy, ngay từ khi ra đời, tác phẩm được giới văn
nghệ thời bấy giờ, tiêu biểu là văn hào Kawabata Yasunari
vô cùng tán thưởng.
Đến năm sau, 1940, tác phẩm được giải nhì của giải
thưởng văn học Kitamura Tokoku. Tác phẩm đã được tái
bản rất nhiều lần và luôn được các độc giả nữ yêu thích
cho đến nay. Bản thân tập nhật ký của Ariake đã trở
thành một tư liệu văn học quý và được trưng bày tại bảo
tang văn học cận đại Aomori vào tháng 2 năm 2000.
Cũng như “Nữ sinh”, sự tinh tế trong việc miêu tả tâm
lý phụ nữ của Dazai một lần nữa được thể hiện qua
truyện “Nữ tác gia”. Tâm lý của một cô gái nuôi mộng
văn chương hiện ra thật sinh động và thú vị vô cùng. Là
chứng nhân của cuộc thế chiến tàn khốc và là nạn nhân
của thời cuộc, Dazai đã đưa những trải nghiệm cay đắng
của mình vào tác phẩm.
Truyện ngắn “Tờ tiền giấy” nói về sự đảo điên của
cuộc thế chiến nhưng vẫn có một tia sáng ấm áp nhỏ
nhoi của tình người. Qua hai tác phẩm “Một ngày trọng
đại” và “Người vợ” những tâm tình của người phụ nữ
Nhật Bản trong ngày mở màn cuộc chiến tranh Thái
Bình Dương, hay khi bị chồng phản bội đều hiện ra hết
sức chân thật. Riêng truyện “Một chuyến đi” nói về nhà
văn Kasai, một chân dung tự họa của Dazai, qua đó
chúng ta thấy được phần nào sự cố gắng của tác giả
trong việc theo đuổi văn chương, nhiều khi không phải
vì đam mê mà còn vì sinh kế nữa.
Mục lục
LỜI NGƯỜI DỊCH
NGƯỜI VỢ
NỮ TÁC GIA
NỮ SINH
MỘT CHUYẾN ĐI
MỘT NGÀY TRỌNG ĐẠI
TỜ TIỀN GIẤY
PHỤ LỤC
LỜI NGƯỜI DỊCH
Sau “Tà dương” và “Thất lạc cõi người”, chúng tôi xin
được giới thiệu đến quý độc giả một tác phẩm tiêu biểu
nữa của Dazai là “Nữ sinh” cùng với năm truyện ngắn
xuất sắc khác. Hầu hết các truyện trong tuyển tập đều
có nhân vật chính là nữ với những miêu tả tâm lý hết
sức tinh tế và cao sang. Không những thành công với
thể loại tự truyện (tư tiểu thuyết), Dazai còn chứng tỏ
bản lĩnh bậc thầy của mình trong việc am hiểu tâm lý
phụ nữ xứ Phù Tang. Qua tác phẩm của Dazai, tâm hồn
Nhật Bản; vốn kiềm nén và khép kín, có thể hiện cũng
rất cô đọng, như thơ Haiku, như kịch No, như phim của
Ozu; lại được chuyên chở qua ngôn ngữ của văn chương
một cách dịu dàng nhưng không kém phần mãnh liệt.
Truyện “Nữ sinh” được dịch từ nguyên tác “Nữ sinh đồ”
(女生徒) trong tập truyện ngắn “Nữ sinh” (女生徒) do
Nhà xuất bản Kadokawa (角川文庫) tái bản có sửa chữa
lần thứ năm năm Bình Thành 21 (2009). Tác phẩm này
được đăng tải lần đầu tiên trên tạp chí “Văn học giới” số
tháng 4 năm 1939. Dựa trên nhật ký của một độc giả nữ
tên là Ariake Shizu (lúc bấy giờ 19 tuổi) gửi cho Dazai
vào tháng 9 năm 1938, Dazai đã viết thành một truyện
vừa xuất sắc nói về biến chuyển nội tâm của một nữ
sinh 14 tuổi gói gọn trong vòng một ngày, từ khi thức
dậy đến khi đi ngủ. Tác phẩm khắc họa rất thành công
tâm lý bi quan hay trầm uất của một thiếu nữ tuổi dậy thì
với một văn phong vô cùng tinh tế. Chính vì vậy, ngay
từ khi ra đời, tác phẩm được giới văn nghệ thời bấy giờ,
tiêu biểu là văn hào Kawabata Yasunari vô cùng tán
thưởng. Đến năm sau, 1940, tác phẩm được giải nhì của
[1]
giải thưởng văn học Kitamura Tokoku . Tác phẩm đã
được tái bản rất nhiều lần và luôn được các độc giả nữ
yêu thích cho đến nay. Bản thân tập nhật ký của Ariake
đã trở thành một tư liệu văn học quý và được trưng bày
tại bảo tàng văn học cận đại Aomori vào tháng 2 năm
2000.
Cũng như “Nữ sinh”, sự tinh tế trong việc miêu tả tâm lý
phụ nữ của Dazai một lần nữa được thể hiện qua truyện
“Nữ tác gia”. Tâm lý của một cô gái nuôi mộng văn
chương hiện ra thật sinh động và thú vị vô cùng.
Là chứng nhân của cuộc thế chiến tàn khốc và là nạn
nhân của thời cuộc, Dazai đã đưa những trải nghiệm cay
đắng của mình vào tác phẩm. Truyện ngắn “Tờ tiền
giấy” nói về sự đảo điên của cuộc thế chiến nhưng vẫn
có một tia sáng ấm áp nhỏ nhoi của tình người. Qua hai
tác phẩm “Một ngày trọng đại” và “Người vợ” những
tâm tình của người phụ nữ Nhật Bản trong ngày mở màn
cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, hay khi bị chồng
phản bội đều hiện ra hết sức chân thật. Riêng truyện
“Một chuyến đi” nói về nhà văn Kasai, một chân dung tự
họa của Dazai, qua đó chúng ta thấy được phần nào sự
cố gắng của tác giả trong việc theo đuổi văn chương,
nhiều khi không phải vì đam mê mà còn vì sinh kế nữa.
Như vậy là sau ba năm ròng rã đọc và dịch Dazai, chúng
tôi đã giới thiệu đến quý độc giả những tác phẩm chính
yếu, xuất sắc nhất của ông, cả tiểu thuyết và truyện
ngắn. Chỉ riêng một số thư từ, vài truyện ngắn khác như
“Kỷ niệm” (思い出), “Vợ của Villon” (ヴィヨンのつま)
và vở kịch “Pháo hoa mùa đông” (冬の花火) là chưa
được dịch và giới thiệu. Hy vọng những tác phẩm đó sẽ
được bổ sung đầy đủ khi ấn hành tuyển tập tác phẩm
của Dazai trong tương lai.
Nagoya, tháng 9 năm 2012
Hoàng Long
NGƯỜI VỢ
Truyện “Người vợ” được dịch từ nguyên tác “Osan”
(おさん) trong tập truyện ngắn “Nữ sinh” (女生徒) do
Nhà xuất bản Kadokawa (角川文庫) tái bản có sửa
chữa lần thứ năm năm Bình Thành 21 (2009), từ trang
215 đến trang 236. Nguyên văn Osan là tên người vợ
của Kamiji (紙治) trong vở tuồng “Joururi” (浄瑠璃)
“Tự sát đôi ở Amijima” (Shinjuten no Amijima - 心中
天の網島), được dựa trên câu chuyện có thật. Kamiji
vốn là một thợ buôn giấy ở Tenma Osaka, qua lại thân
mật với một cô du nữ tên Koharu (小春), bị dằn vặt
giữa nàng với người vợ trinh thục Osan, cuối cùng cùng
với Koharu tự sát đôi ở chùa Daichouji (大長寺)ở
Amijima
(網島)
1
Đi ra từ hành lang, không nghe cả tiếng bước chân như
thể đã bị rút mất linh hồn. Vừa dọn dẹp chén bát sau bữa
cơm tối, tôi vừa cảm nhận được điều đó và thấy buồn
đến mức đánh rơi chiếc dĩa, rồi bất giác thở dài, vươn
thẳng người mở cánh cửa bếp nhìn ra ngoài, thì thấy
bóng dáng buồn bã vô tình của người chồng từ phía sau
trong chiếc áo yukata trắng có sợi dây đai lưng nhỏ quấn
hờ chập chờn hiện ra trong ánh hoàng hôn mùa hạ, như
một bóng ma, như không phải vật sống trong thế giới
này, đang đi trên con đường nhỏ ven bờ giậu có những
cọng bí leo.
“Cha đâu hả mẹ?”
Con bé gái đầu lòng năm nay lên bảy tuổi chơi ngoài sân,
đang rửa chân bằng gàu nước nơi cửa bếp, vô tâm hỏi
tôi như vậy. Con bé này thích cha hơn mẹ, mỗi tối cùng
ngủ chung màn với cha trên tấm futon trải nơi căn
phòng sáu chiếu.
“Đi chùa rồi con.”
Tôi tùy tiện trả lời con bé như vậy nhưng nói xong mới
cảm thấy như mình đã nói một điều gì đó bất thường và
lạnh buốt sống lưng.
“Đến chùa à? Để làm gì cơ?”
“Lễ Obon mà. Vì thế mà cha đi chùa đấy.”
Những lời nói dối cứ thế mà tuôn ra không ngờ. Thực
sự ngày đó đúng là ngày mười ba lễ Obon. Con nhà
người ta mặc áo kimono đẹp đẽ, ra trước cổng nhà, phất
tay áo dài mà chơi đùa thỏa thích, còn quần áo kimono
của mấy đứa con mình bị thiêu cháy hết trong chiến
tranh nên dù lễ Obon cũng mặc mấy quần áo thô mạt
không khác chi thường ngày.
“Vậy ư? Chắc là cha sẽ về sớm nhỉ?”
“Chà, biết sao nhỉ. Nếu bé Masako mà ngoan thì có lẽ
cha sẽ về sớm đấy.”
Mặc dù tôi nói vậy nhưng nhìn điệu bộ của chồng thì tôi
chắc chắn đêm nay lại ngủ lang bạt ở ngoài rồi.
Bé Masako bước vào nhà bếp, rồi đi lên căn phòng ba
chiếu, ngồi nơi cửa sổ với vẻ cô đơn mà ngước nhìn ra
ngoài.
“Mẹ à, cây đậu của Masako nở hoa rồi đấy.”
Con bé lẩm bẩm vậy rồi nước mắt lưng tròng vì cảm
động.
“Đây, đây nữa. A, thực sự rồi. Đậu mọc lên nhiều quá!”
Phía bên hành lang, có một mảnh đất khoảng mười
[2]
tsubo , trước đây tôi có trồng nhiều loại rau trái nhưng
sau khi có ba đứa con thì không còn đụng tay chân đến
công việc đồng áng nữa; ngày xưa chồng tôi cũng đôi
khi giúp đỡ làm vườn nhưng gần đây thì đến việc nhà
cũng không làm chút gì. Mảnh vườn nhà bên được
chăm bón cẩn thận, trồng rất nhiều loại rau tươi ngon
mơn mởn còn vườn nhà mình chỉ toàn cỏ dại, so sánh
thấy mà xấu hổ. Masako mới lấy một hạt đậu được cấp
phát cho mà vùi xuống đất, tưới nước lên vậy mà lại nảy
mầm, đó là thứ tài sản duy nhất của bé Masako không
có lấy một cái đồ chơi nào khác, mỗi lần sang nhà hàng
xóm lại huyên thuyên không biết ngượng là cây đậu nhà
mình thế này, cây đậu nhà mình thế kia.
Sa sút bi thảm. Cô đơn. Không, đối với Nhật Bản bây giờ
mà nói thì không chỉ riêng chúng tôi mà tất cả những
người sống ở Tokyo này nữa, nhìn đâu cũng thấy một
sự sa sút trầm kha, dù chạy quanh quẩn thế nào thì
những vật mà chúng tôi mang theo cũng bị thiêu cháy
hết cả, tuy vậy điều khổ sở bây giờ cấp bách hơn cả sự
sa sút đó là nỗi cực nhọc của một người vợ trong thế
giới này.
Chồng tôi đã làm việc gần mười năm trong một tòa soạn
báo khá nổi tiếng ở Kanda. Khoảng tám năm trước đã
cùng tôi làm một lễ kết hôn giản dị thông qua mai mối.
Rồi thì lúc đó những căn nhà cho thuê ở Tokyo ngày
càng ít đi, nên cuối cùng chúng tôi đã tìm căn nhà nhỏ
này, giống như một căn nhà giữa cánh đồng ở ngoại vi
thành phố, ven tuyến đường tàu chính Chuosen và sống
ở đây cho đến khi đại chiến tranh xảy ra.
Chồng tôi vì cơ thể yếu nhược nên được miễn trưng
dụng và triệu tập nên cứ mỗi ngày vô sự đến làm việc
chỗ tòa soạn báo, nhưng rồi chiến tranh khốc liệt hơn, vì
vùng ngoại vi thành phố chỗ tôi ở có xưởng sản xuất
máy bay nên bom đạn thường xuyên rơi xuống sát ngay
nhà, cuối cùng vào một đêm bụi trúc sau nhà trúng
bom, thế là nhà bếp, nhà vệ sinh với căn phòng ba chiếu
tan hoang hết cả. Gia đình bốn người chúng tôi (lúc đó
ngoài bé Masako ra thì trưởng nam Yoshitaro cũng mới
vừa được sinh) không thể nào tiếp tục sống trong căn
nhà hư hoại như vậy được nữa nên tôi cùng hai đứa con
tản cư về quê nhà ở thành phố Aomori, còn chồng tôi thì
quyết định ở lại trong căn phòng sáu chiếu, tiếp tục đi
làm tòa soạn báo như thường lệ.
Tuy nhiên chúng tôi tản cư về thành phố Aomori chưa
đến bốn tháng thì thành phố này đã bị không kích dữ
dội, toàn thành phố bị phá hủy, khổ sở vô cùng, tất cả
đồ đạc mang theo bị cháy trụi hết, trong cảnh thê thảm
trắng tay, chúng tôi đến nương nhờ nhà một người quen
còn sót lại ở thành phố Aomori, hỗn loạn như thấy giấc
mơ địa ngục. Chừng khoảng mười ngày ăn nhờ ở đậu
như vậy thì Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện. Tôi nhớ
chồng mình đang sống ở Tokyo nên mới dắt díu hai đứa
con thất thểu như kẻ ăn mày quay ngược về Tokyo, rồi
vì không có căn nhà nào khác để dọn đi nên mới nhờ vả
người thợ mộc sửa chữa qua loa căn nhà hư hỏng hơn
phân nửa đó, quay trở lại cuộc sống đầm ấm của gia
đình như trước kia, vừa mới thở phào được một chút thì
tâm tính chồng tôi thay đổi.
Tòa soạn báo bị hư hại, rồi những người đứng đầu tranh
cãi nhau về vốn liếng nên cuối cùng phá sản, chồng tôi
lập tức trở thành kẻ thất nghiệp, nhưng vì làm việc cho
tòa soạn báo nhiều năm nên có rất nhiều người quen biết,
trong số đó có một vị có thế lực xuất vốn ra thành lập
một nhà xuất bản mới, và đã xuất bản được hai ba chủng
loại sách. Nhưng công việc xuất bản rồi thì việc mua
giấy cũng thất bại, tổn thất khá lớn, chồng tôi mang nợ
rất nhiều, nên mỗi ngày ngơ ngẩn rời khỏi nhà rồi đến tối
trở về với bộ dạng mệt lử, vốn trước đây là người ít nói
từ dạo ấy thì câm lặng luôn. Đến khi tổn thất của việc
xuất bản đã được bù đắp phần nào thì chồng tôi chẳng
còn khí lực để làm việc gì nữa. Chồng tôi mỗi ngày cứ
đứng trầm ngâm bên khung cửa sổ, suy nghĩ điều gì,
vừa hút thuốc vừa nhìn ra chân trời xa xăm. Khi tôi cảm
thấy lo lắng “aa, lại bắt đầu rồi chăng” thì chồng tôi thở
dài như thể không thể làm gì được nữa rồi vứt mẩu
thuốc đang hút dở ra ngoài sân, lấy cái ví trong ngăn kéo
nhét vào túi, rồi lặng lẽ bước ra từ hành lang không tiếng
động như thể một người bị rút mất linh hồn và thường
thì tối đó không trở về nhà.
Một người chồng tốt và dịu dàng. Rượu uống chừng một
chai, bia uống một lon còn thuốc lá tuy có hút nhưng ở
tầm vừa đủ số lượng thuốc được cấp phát, cưới nhau đã
gần mười năm mà anh ấy chưa từng đánh đập hay la
mắng tôi một lần nào. Chỉ có một lần khi có khách đến
nhà chơi, lúc ấy bé Masako mới chừng ba tuổi thì phải,
anh ấy pha trà mời khách bị tràn ra mới gọi tôi nhưng lúc
ấy tôi đang quạt lò trong bếp không nghe. Thấy không
trả lời, chồng tôi, chỉ lúc ấy thôi mới làm ra vẻ mặt sưng
sỉa ôm bé Masako xuống bếp, đặt bé xuống phản, rồi
trừng trừng nhìn tôi đầy sát khí, cứ đứng chôn chân
như vậy một lúc lâu không nói lời nào rồi xoay lưng về
phía tôi mà đi về phòng, đóng cánh cửa giấy đánh sập
một tiếng lớn như vọng vào đến tủy xương tôi khiến tôi
run bắn người đi vì sợ. Tôi nhớ là mình bị chồng giận
chỉ có một lần đó thôi, tuy vì chiến tranh mà tôi cũng
vất vả khổ sở như những người khác nhưng mỗi lần nghĩ
đến sự dịu dàng của chồng, tôi nhủ thầm rằng trong tám
năm qua mình là người hạnh phúc.
(Thành một con người khác rồi. Chuyện đó bắt đầu từ
khi nào nhỉ? Sau khi trở về từ nơi sơ tán ở Aomori, sau
khoảng bốn tháng mới gặp mặt, tôi thấy vẻ mặt chồng
có cái gì đê tiện, thái độ cứ nhấp nha nhấp nhổm như
tránh ánh mắt nhìn của tôi nhưng tôi cho rằng đó chỉ là
vì chồng tôi sống thiếu thốn một mình đã lâu nên mới
tiều tụy như vậy rồi cảm thấy đau lòng. Hay là trong bốn
tháng đó, à mà thôi, không nghĩ nữa, càng nghĩ thì càng
vùi sâu vào vũng bùn khổ sở mà thôi).
Chắc hẳn là chồng mình không về, nên tôi mới trải mền
futon của chồng với futon của bé Masako ra rồi vừa
giăng màn, tôi vừa cảm thấy khổ sở và buồn bã.
2
Đến trước buổi trưa ngày hôm sau, khi tôi đang giặt tã
của đứa con gái thứ hai là bé Toshiko vừa mới sinh vào
mùa xuân năm nay bên thành giếng cạnh hiên nhà thì
chồng tôi giơ cái mặt tối tăm như thằng kẻ trộm nhẹ
nhàng tiến đến, nhìn tôi, im lặng cúi mặt rồi vấp ngã chúi
đầu đi về phía hành lang. Bất giác cúi đầu trước vợ mình
vậy thì ra anh ấy cũng khổ. Nghĩ như vậy, tôi thấy ngực
nghẹn ngào, không sao giặt đồ tiếp được nữa nên đứng
dậy theo chồng đi vào nhà.
“Nóng lắm phải không anh? Hay thử cởi trần ra xem
sao? Sáng nay người ta cấp phát phần lễ Obon được hai
chai bia. Em đã ướp lạnh sẵn rồi. Anh uống nhé?”
Chồng tôi nhấp nhổm rồi cười yếu ớt.
“Đằng ấy tuyệt vời nhỉ!”
Giọng nói thiếu điều muốn đứt hơi.
“Vậy mình với mẹ nó uống mỗi người một chai nhé!”
Nhìn thấu rồi nhé, nói ra lời như bợ đỡ cơ đấy.
“Thế thì em sẽ tiếp mình vậy!”
Người cha đã mất của tôi là một tay bợm rượu nên có lẽ
vì thế chăng mà tửu lượng của tôi còn mạnh hơn chồng
nữa. Hồi mới cưới nhau, tôi với chồng hai người đi đến
Shinjuku, vào các quán Oden uống rượu. Chồng tôi ngay
lập tức mặt đỏ gay rồi nói không được nữa, còn tôi vẫn
chẳng thấy gì, có chăng là tiếng ong ong ở trong tai mà
thôi.
Trong căn phòng ba chiếu, lũ trẻ ăn cơm, chồng tôi cởi
trần, cái khăn ướt khoác trên vai, uống bia. Tôi chỉ làm
một cốc rồi sau đó thấy lãng phí nên thôi, ôm bé
Toshiko mà cho bú. Bề ngoài nhìn như một gia đình đầm
ấm nhưng thực ra chẳng dễ chịu gì, chồng cứ lảng tránh
tia nhìn của tôi còn tôi cũng phải chọn những chuyện để
không chạm đến nỗi đau của chồng mình thành ra câu
chuyện cứ lạc lõng. Con bé Masako với thằng em
Yoshitaro hình như cũng mẫn cảm với tâm tình của cha
mẹ nên rất đỗi ngoan ngoãn chấm bánh mì hấp vào cốc
trà có bỏ đường hóa học mà ăn ngon lành.
“Rượu uống buổi trưa, say đấy nhỉ?”
“Ừ, đúng nhỉ, cả người cứ đỏ au lên này.”
Lúc đó mới thoáng nhìn tôi một tí. Dưới cằm của chồng
tôi có một con nhậy màu tím bám vào, không, không
phải là con nhậy đâu, khi nhìn thoáng vết bớt hình con
nhậy, đột nhiên tôi nhớ đến chuyện lúc mới vừa cưới
nhau. Chồng tôi hình như cũng ngay lập tức nhận ra nên
mới nhấp nhổm dùng đầu chiếc khăn ướt đang vắt trên
vai vụng về che vết bớt bị cắn đó. Mặc dù hiểu rằng
ngay từ đầu chồng tôi khoác chiếc khăn ướt trên vai là
để che giấu hình dáng con nhậy nhưng tôi làm ra vẻ như
chẳng nhận thấy gì, tiếp tục cố gắng.
“Bé Masako được ngồi cùng cha, ăn cơm thấy ngon lành
quá nhỉ!”
Tôi thử nói đùa như vậy nhưng chồng tôi nghe có vẻ
mỉa mai hay sao đó nên mặt mũi trắng bệch ra, khi nỗi
khổ sở của tôi đến mức cực hạn thì đột nhiên tiếng radio
nhà hàng xóm bắt đầu phát bài quốc ca Pháp, chồng tôi
lắng tai nghe:
“A, ra vậy, thì ra hôm nay là ngày kỷ niệm cách mạng
Pháp.”
Và thầm thì như độc thoại, rồi mỉm cười, như nói cho tôi
và bé Masako nghe:
“Ngày mười bốn tháng bảy, ngày này đây, cách mạng...”
Chồng tôi nói dở giữa chừng như vậy rồi ngưng. Tôi liếc
nhìn, thấy chồng tôi miệng méo xệch, nước mắt ầng ậc
trên mi, khuôn mặt nhìn như muốn khóc rồi cất giọng
nghẹn ngào.
“Phá ngục Bastille, dân chúng nhé, từ khắp nơi vùng
dậy, rồi sau đó dù bữa tiệc hoa mùa xuân của Pháp đã
vĩnh viễn, vĩnh viễn mất đi nhưng cũng phải phá hoại, dù
cho hiểu rằng sự kiến thiết một thứ đạo đức mới, một
trật tự mới vĩnh viễn không thể nào thực hiện được
nhưng vẫn phải phá hoại thôi, cách mạng vẫn chưa hoàn
thành; Tôn Dật Tiên nói vậy rồi chết nhưng việc hoàn
thành cách mạng có lẽ vĩnh viễn chẳng bao giờ được,
tuy vậy cũng vẫn phải làm cách mạng, bản chất của
cách mạng là thứ đẹp và đau khổ; nói rằng sẽ làm
chuyện như thế, mình sẽ trở thành gì đây, nỗi đau khổ,
vẻ đẹp ấy, và rồi tình yêu...”
Bài quốc ca Pháp vẫn tiếp tục, chồng tôi vừa nói vừa
khóc, rồi sau đó chừng như thấy ngượng nên lại cố nặn
ra một nụ cười khinh khỉnh.
“Chà, có vẻ cha là một tay say rượu khóc nhè rồi.”
Nói vậy rồi ngoảnh mặt đứng dậy, đi ra bếp rửa mặt.
“Không được rồi. Say quá. Lại khóc vì cách mạng Pháp
nữa chứ. Đi ngủ chút đây.”
Chồng tôi nói rồi đi vào căn phòng sáu chiếu, sau đó là
lặng yên nhưng chắc chắn là nằm co mình mà khóc sụt
sịt thôi.
Chồng tôi không phải khóc vì cách mạng. Không, nhưng
có lẽ cách mạng Pháp và tình yêu gia đình thì cũng
giống nhau. Cái nỗi khổ của chồng tôi phải phá hoại cái
vương triều lãng mạn Pháp và cái gia đình êm ấm vì thứ
đẹp và buồn ấy thì tôi cũng hiểu rõ nhưng vì yêu chồng
nên tuy không phải là người vợ Osan của Kamiji ngày
xưa, cũng ca thán:
Trong ngực vợ mình
có một con quỷ trú ngụ
A, a, a
hay là con rắn độc chăng?
Nếu bỏ qua mọi chuyện làm ra vẻ như chẳng liên quan
gì đến tư tưởng cách mạng và tư tưởng phá hoại, thì còn
một người vợ bị bỏ lại ở một chỗ này, một tư thế này lúc
nào cũng chỉ thở dài buồn bã. Cuối cùng chuyện này là
như thế nào đây? Phó mặc vận mệnh cho ông trời, cầu
mong cho cơn gió tình yêu của chồng đổi hướng, rồi cứ
nhẫn nại phục tùng vậy sao? Cũng đã có đến ba đứa con
rồi, vì những đứa con mà không thể nào chia tay chồng
được nữa.
Khoảng hai đêm ngủ lang bạt ở ngoài thì cũng có một
đêm chồng tôi ngủ ở nhà. Cơm tối xong, chồng cùng
các con chơi đùa ngoài hành lang, còn nói những lời đùa
cợt ti tiện với lũ trẻ nữa, vụng về bế đứa con gái út mới
sinh năm nay lên mà khen:
“Mập lên rồi đấy nhé, cô bé mỹ nhân này.”
Tôi cũng chợt nói, không có ý gì:
“Dễ thương đúng không? Nhìn thấy con cái mình như
vậy chắc ai cũng muốn mình sống lâu đấy.”
Vẻ mặt chồng ngay lập tức biến đổi.
“Không đâu.”
Vì nghe chồng trả lời với vẻ khổ sở như vậy nên tôi bất
giác kinh ngạc, mồ hôi lạnh túa ra đầm đìa.
Khoảng tám giờ, lúc đi ngủ, chồng tôi trải cái futon của
mình và của bé Masako trong căn phòng sáu chiếu rồi
giăng màn, con bé Masako có vẻ còn muốn chơi với cha
thêm chút nữa nhưng bị cha bắt thay đồ rồi ngủ, sau đó
chồng tôi cũng tắt đèn.
Tôi dỗ đứa con trai và con bé gái thứ hai ngủ trong căn
phòng bốn chiếu rưỡi bên cạnh rồi khâu vá đến khoảng
mười một giờ thì giăng màn chui vào giữa hai đứa bé mà
ngủ không phải theo hình chữ “xuyên” (川) mà chụm
đầu vào nhau theo hình chữ “tiểu” (小).
Không thể nào ngủ được. Phòng bên chừng như chồng
tôi cũng vậy, tôi nghe thấy tiếng thở dài. Bất giác tôi
cũng thở dài theo và lại nhớ đến bài ca than khóc:
Trong ngực vợ mình
có một con quỷ trú ngụ
A, a, a
hay là con rắn độc chăng?
Chồng tôi thức dậy, lần sang bên này. Tôi cứng người lại
nhưng nghe chồng tôi bảo:
“Thuốc ngủ hết rồi sao em?”
“Có đấy, nhưng đêm qua em uống hết rồi. Chẳng có
chút hiệu quả gì anh ạ!”
“Nếu uống nhiều quá thì ngược lại chẳng có công hiệu
gì đâu. Uống chừng sáu viên là vừa đủ đấy.”
Giọng nói chồng tôi có vẻ khó chịu.
3
Mỗi ngày, mỗi ngày, nắng nóng kéo dài. Vì trời nóng và
vì lo lắng nữa nên đến bữa tôi không thể nào nuốt trôi,
xương gò má nhô lên, đầu vú cho con bú cũng teo lại,
còn chồng tôi cũng chẳng ăn uống được chút gì, hai mắt
lõm sâu xuống, lấp lánh những tia nhìn đáng sợ, đôi khi
tự xỉ vả mình rồi lại cười khùng khục, còn nói là:
“Chẳng thà phát điên lên còn vui hơn em ạ.”
“Em cũng vậy đấy.”
“Người đúng chắc chắn không có gì phải khổ sở cả đâu.
Anh cảm động lắm! Tại sao mẹ con em lại nghiêm túc,
lương thiện như vậy? Đáng lẽ ngay từ đầu phải có sự
phân biệt rõ những con người được sinh ra để sống đàng
hoàng trong thế giới này với những con người không
phải như thế chứ.”
“Không đâu, em chậm chạp ngu muội lắm, chỉ là...”
“Chỉ là...”
Chồng tôi nhìn tôi với ánh mắt vô cùng kỳ lạ như của
người điên.
Tôi ngậm miệng. Ah, không thể nào nói được. Những
chuyện cụ thể thật đáng sợ, không thể nói gì.
“Chỉ là thấy anh khổ sở như vậy làm em cũng khổ tâm
theo.”
“Cái gì chứ, vớ vẩn.”
Chồng tôi nhẹ người mà mỉm cười nói vậy.
Lúc đó, đột nhiên tôi hưởng thụ được cảm giác hạnh
phúc mát lành đã lâu rồi không có được. (Đúng vậy, chỉ
cần làm cho tâm trạng của chồng mình trở nên vui vẻ
thì tâm trạng của tôi cũng vui vẻ theo. Chẳng cần đạo
đức gì, chỉ cần tâm trạng vui vẻ là được).
Khuya hôm đó, tôi chui vào màn của chồng.
“Được rồi, được rồi. Anh đừng suy nghĩ gì cả.”
Tôi nói vậy rồi ngả người vào thì chồng tôi cất giọng
khàn khàn.
[3]
“Thứ lỗi cho anh, Escuse me.”
Chồng tôi nói như đùa cợt rồi ngồi dậy xếp bằng trên
giường.
[4]
“Đừng phiền, đừng phiền. Don't mind, don't mind.”
Đêm mùa hạ trăng tròn, có bốn năm tia sáng từ khe hở
của tấm liếp che xuyên vào màn, rọi lên tấm ngực trần
gầy gò của chồng tôi.
“Anh gầy đi nhiều đấy.”
Tôi bật cười và nói đùa như vậy rồi cũng ngồi dậy.
“Em mới gầy đi đấy. Cứ lo lắng không đâu nên mới vậy
mà.”
“Không đâu, chẳng phải em đã nói rồi sao. Được rồi,
anh đừng suy nghĩ gì nữa, bởi vì em nhạy cảm đấy. Chỉ
có điều đôi khi cũng phải yêu chiều em tí chứ.”
Tôi nói vậy và bật cười. Chồng tôi cũng cười, nhe hàm
răng trắng ởn trong ánh trăng. Khi tôi còn nhỏ, ông bà
tôi cũng thường cãi nhau, mỗi lần thế bà lại nói với ông
là “yêu chiều em đi chứ” đến nỗi lúc ấy tôi còn là trẻ con
mà cũng thấy buồn cười, rồi sau khi cưới cũng kể cho
chồng nghe, cả hai đứa cùng cười lăn cười bò.
Lúc đó khi nghe tôi nói như vậy, chồng tôi quả thật có
cười nhưng ngay lập tức lại làm ra vẻ mặt nghiêm túc.
“Anh dự định làm một việc quan trọng. Bất chấp sự chỉ
trích của thế gian, anh cũng định làm một việc quan
trọng. Em thực sự là một người tốt. Đừng lo lắng đến
những chuyện không đâu. Hãy bình tâm lại và có lòng tự
hào. Anh lúc nào cũng chỉ nghĩ cho em thôi. Về điểm
này thì dù em có thể tự tin đến mấy cũng không thừa
đâu.”
Tự nhiên nói ra toàn những chuyện mất hứng, nghiêm
trang đáng ghét nên tôi khó chịu, cúi mặt mà lí nhí.
“Nhưng mà anh đã thay đổi rồi đấy.”
(Em chẳng thà không được anh nghĩ đến, chẳng thà bị
anh ghét, căm hận thì tâm tư em có lẽ còn thoải mái
hơn. Nghĩ cho em đến mức như vậy mà còn đi ôm ấp
người khác, cái kiểu cách đó của anh đã đẩy em xuống
địa ngục rồi).
Có lẽ đàn ông thường hiểu lầm rằng lúc nào cũng nghĩ
về vợ mình là đạo đức chăng? Cho dù có thích người
khác đi nữa mà vẫn không quên vợ mình là điều đúng
đắn, là lương tâm, chẳng phải đàn ông thường xuyên
nghĩ phải như vậy hay sao? Và hễ bắt đầu yêu người
khác rồi là cứ thở dài u uất trước vợ mình, bắt đầu cảm
thấy dằn vặt về đạo đức, vì thế mà người vợ cũng cảm
nhiễm cái u uất của chồng mình, rồi cũng thở dài theo,
rồi nếu người chồng vui vẻ bình thường thì người vợ
cũng sống mà không nghĩ đến địa ngục. Nếu yêu người
ta, xin hãy quên vợ mình đi mà yêu cho tận tụy, cho
miệt mài!
Chồng tôi cười như không có chút sức lực nào.
“Thay đổi à? Không có thay đổi đâu. Chỉ có điều dạo
này trời nóng quá. Nóng không sao chịu nổi. Đành phải
[5]
xin lỗi excuse me mùa hạ thôi.”
Vì không biết bám víu vào đâu nên tôi hơi mỉm cười.
“Đúng là con người đáng ghét.”
Tôi nói vậy rồi bắt chước chồng, lập tức chui ra khỏi
màn về chỗ của mình, chen vào nằm giữa hai đứa con
mà ngủ theo hình chữ “tiểu” (小).
Tuy nhiên, chỉ cần nũng nịu, nói chuyện và cười với
chồng như thế thôi là tôi cũng vui và cảm thấy cái khối
ngưng kết trong ngực mình đã tan ra một chút, đêm đó
tôi đã ngủ được một giấc lơ mơ đến sáng mà không trằn
trọc suy tư.
Từ giờ trở đi tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Cứ duy trì
tình trạng này, nũng nịu với chồng, nói đùa, vờ vĩnh một
chút thì có chuyện gì nữa cũng không sao, không cần
có thái độ đúng đắn cũng chẳng hề gì, đạo đức gì cũng
được, chỉ là muốn sống vui vẻ một chút, lâu lâu, cho dù
một giờ hai giờ vui vẻ là được, bám víu vào chồng làm
sao trong nhà cất tiếng cười vui vẻ là xong. Đúng lúc tôi
định thực hiện điều ấy thì một buổi sáng kia, chồng tôi
nói là muốn đi suối nước nóng.
“Anh nhức đầu quá. Đúng là chịu thua cái nóng mất rồi.
Ở gần suối nước nóng Shinshu anh có một người quen
bảo rằng cứ đến chơi bất cứ lúc nào cũng được, không
cần lo lắng mang theo gạo muối làm gì đâu. Anh muốn
đến đó tĩnh dưỡng chừng hai ba tuần. Cứ như thế này thì
anh sẽ phát điên lên mất. Trước hết anh muốn thoát khỏi
Tokyo cái đã.”
Bất chợt tôi nghĩ là chồng mình đi du lịch vì muốn trốn
chạy người ấy.
“Trong lúc anh đi vắng, lỡ có trộm vào thì làm thế nào?”
Khi tôi vừa cười (những người buồn bã thì thường hay
cười) vừa hỏi vậy thì chồng tôi trả lời:
“Thì em cứ nói với bọn trộm là ông chồng tôi bị điên rồi.
Bọn trộm chắc cũng không nỡ ra tay với người điên
đâu.”
Vì không có lý do gì để phản đối chồng đi du lịch, tôi
mới mở ngăn tủ định lấy đồ mùa hè của chồng ra, nhưng
tìm khắp nơi mà chẳng thấy.
Tôi xanh xám cả mặt.
“Không có. Chuyện gì vậy nhỉ? Mình ở nhà hoang hay
sao?”
“Anh bán rồi.”
Chồng tôi cười mà như sắp khóc, trả lời như vậy.
Tôi kinh ngạc nhưng giả vờ như không.
“Nhanh vậy sao?”
“Cái này còn ghê gớm hơn cả ăn trộm nữa đấy.”
Tôi nghĩ chắc chắn là chồng cần tiền vì người đàn bà ấy.
“Vậy thì anh sẽ mặc gì đây?”
“Chỉ cần một mảnh áo sơ mi hở cổ là được.”
Vừa mới nói buổi sáng, buổi trưa chồng tôi đã định đi.
Dù muốn rời nhà sớm phút nào hay phút ấy, nhưng hôm
đó Tokyo giữa những ngày nắng nóng kéo dài lại đổ một
trận mưa rào. Chồng tôi khoác ba lô, đi giày, ngồi ở bậc
thềm hành lang, vẻ mặt rất hấp tấp vội vàng chờ cho
mưa tạnh, bất chợt nói lẩm bẩm:
“Cây bách nhật hồng hình như cứ cách một năm mới nở
hoa một lần thì phải.”
Cây bách nhật hồng trước hành lang năm nay không nở
hoa.
“Chắc là vậy đấy.”
Tôi trả lời bâng quơ.
Đó là cuộc nói chuyện thân thiết có vẻ vợ chồng cuối
cùng của hai chúng tôi.
Trời tạnh mưa, chồng tôi vội vàng rời khỏi nhà như chạy
trốn rồi; ba ngày sau, trên báo có một bài nhỏ viết về vụ
tự sát đôi ở hồ Suwako.
Sau đó, tôi nhận được bức thư của chồng tôi gửi từ lữ
quán ở Suwa.
“Cái chết của anh với người con gái này không phải vì
tình yêu. Anh là một ký giả. Ký giả phải dụ dỗ con
người ta vào con đường cách mạng và phá hoại đồng
thời phải toát mồ hôi mà tìm cách thoát ra khỏi đó.
Đúng là một sinh vật kỳ quái. Là một con ác ma thời
hiện đại. Anh không chịu nổi sự căm ghét chính bản
thân mình mới quyết tâm leo lên cây thánh giá của nhà
cách mạng. Một vụ tai tiếng của ký giả. Chắc đây là
một sự việc chưa từng có tiền lệ chăng? Cái chết của
anh nếu giúp được sự phản tỉnh hay hổ thẹn nơi những
con ác ma hiện đại dù chỉ một chút thôi thì anh cũng lấy
làm vui mừng.”
Đại khái trong lá thư viết cho tôi toàn những điều ngu
ngốc và vớ vẩn như thế. Có lẽ đàn ông cho đến lúc chết
cũng phải ra uy, dối trá hành xử như thể hành vi của
mình cũng phải có một ý nghĩa gì đó chăng?
Nhờ hỏi thăm bạn bè của chồng, tôi mới biết được rằng
người phụ nữ kia là một ký giả hai mươi tám tuổi, làm ở
tòa soạn báo Kanda nơi trước kia chồng tôi từng làm
việc. Nghe nói trong khi tôi đi sơ tán ở Aomori thì cô ta
đến tá túc ở ngôi nhà này, rồi thì bầu bì hay gì đó, dù chỉ
vì thế thôi mà chồng tôi náo động om sòm lên là cách
mạng gì gì đó rồi tự sát thì thật đúng là càng nghĩ càng
thấy chồng tôi là con người không ra gì.
Tiến hành cách mạng là để con người ta sống vui. Tôi
không tin vào nhà cách mạng có gương mặt bi tráng. Tại
sao chồng tôi không thể công khai yêu người con gái đó
một cách vui vẻ để làm cho vợ mình cũng vui vẻ theo?
Thứ tình yêu địa ngục ấy đối với đương sự có thể là một
nỗi khổ đau riêng nhưng lại gây phiền hà đến bao nhiêu
người khác. Nếu như có thể thay đổi phần nào cảm xúc
của mình bằng một cuộc cách mạng chân chính thì
chắc chắn đâu phải là chuyện gì khó khăn. Vậy mà sự
gớm ghê của cái thập tự giá cách mạng chẳng thay đổi
được một chút cảm xúc nào đối với vợ mình cả. Sự ngu
ngốc đến mức kinh ngạc ấy làm tôi phiền muộn rã rời
hơn là cảm thấy buồn thương và giận dữ khi đưa ba đứa
con lên tàu điện đi nhận xác chồng ở Suwa.
NỮ TÁC GIA
Truyện được dịch từ nguyên tác “Chiyojo” (千代女)
trong tuyển tập truyện ngắn “Nữ sinh” (女生徒) của
văn hào Dazai Osamu (太宰治) do nhà xuất bản
Kadokawa
(角川文庫) ấn hành khổ ...
Tủ sách Tinh hoa Văn học
Nguyên tác: 女生徒
Tác giả: Dazai Osamu
Dịch giả: Hoàng Long
Công ty phát hành: Phương Nam
Nhà xuất bản: NXB Hội Nhà Văn
Trọng lượng vận chuyển: 150 g
Kích thước: 13 x 19 cm
Số trang: 177
Ngày xuất bản: 02/2014
Giá bìa: 47.000₫
Nguồn: http://tve-4u.org
Type+Làm ebook: thanhbt
Ngày hoàn thành: 26/02/2015
Cuốn sách này được giới thiệu ở đây nhằm chia sẻ
cho những bạn không có điều kiện mua sách!
Còn nếu bạn có khả năng hãy mua ủng hộ nha!
Giới thiệu
Hầu hết các truyện trong tuyển tập đều có nhân vật
chính là nữ với những miêu tả tâm lý hết sức tinh tế và
cao sang. Không những thành công với thể loại tự truyện
tư tiểu thuyết, Dazai còn chứng tỏ bản lĩnh bậc thầy của
mình trong việc am hiểu tâm lý phụ nữ xứ Phù Tang.
Qua tác phẩm của Dazai, tâm hồn Nhật Bản; vốn kiềm
nén và khép kín, có thể hiện cũng rất cô đọng, như thơ
Haiku, như kịch No, như phim của Ozu; lại được chuyên
chở qua ngôn ngữ của văn chương một cách dịu dàng
nhưng không kém phần mãnh liệt. Truyện “Nữ sinh”
được dịch từ nguyên tác “Nữ sinh đồ” trong tập truyện
ngắn Nữ Sinh do Nhà xuất bản Kadokawa tái bản có sữa
chữa lần thứ năm năm Bình Thành 21 (2009).
Tác phẩm này được đăng tải lần đầu tiên trên tạp chí
“Văn học giới” số tháng 4 năm 1939. Dựa trên nhật ký
của một độc giả nữ tên là Ariake Shizu (lúc bấy giờ 19
tuổi) gửi cho Dazai vào tháng 9 năm 1938, Dazai đã viết
thành một truyện vừa xuất sắc nói về biến chuyển nội
tâm của một nữ sinh 14 tuổi gói gọn trong vòng một
ngày, từ khi thức dậy đến khi đi ngủ. Tác phẩm khắc
họa rất thành công tâm lý bi quan hay trầm uất của một
thiếu nữ tuổi dậy thì với một văn phong vô cùng tinh tế.
Chính vì vậy, ngay từ khi ra đời, tác phẩm được giới văn
nghệ thời bấy giờ, tiêu biểu là văn hào Kawabata Yasunari
vô cùng tán thưởng.
Đến năm sau, 1940, tác phẩm được giải nhì của giải
thưởng văn học Kitamura Tokoku. Tác phẩm đã được tái
bản rất nhiều lần và luôn được các độc giả nữ yêu thích
cho đến nay. Bản thân tập nhật ký của Ariake đã trở
thành một tư liệu văn học quý và được trưng bày tại bảo
tang văn học cận đại Aomori vào tháng 2 năm 2000.
Cũng như “Nữ sinh”, sự tinh tế trong việc miêu tả tâm
lý phụ nữ của Dazai một lần nữa được thể hiện qua
truyện “Nữ tác gia”. Tâm lý của một cô gái nuôi mộng
văn chương hiện ra thật sinh động và thú vị vô cùng. Là
chứng nhân của cuộc thế chiến tàn khốc và là nạn nhân
của thời cuộc, Dazai đã đưa những trải nghiệm cay đắng
của mình vào tác phẩm.
Truyện ngắn “Tờ tiền giấy” nói về sự đảo điên của
cuộc thế chiến nhưng vẫn có một tia sáng ấm áp nhỏ
nhoi của tình người. Qua hai tác phẩm “Một ngày trọng
đại” và “Người vợ” những tâm tình của người phụ nữ
Nhật Bản trong ngày mở màn cuộc chiến tranh Thái
Bình Dương, hay khi bị chồng phản bội đều hiện ra hết
sức chân thật. Riêng truyện “Một chuyến đi” nói về nhà
văn Kasai, một chân dung tự họa của Dazai, qua đó
chúng ta thấy được phần nào sự cố gắng của tác giả
trong việc theo đuổi văn chương, nhiều khi không phải
vì đam mê mà còn vì sinh kế nữa.
Mục lục
LỜI NGƯỜI DỊCH
NGƯỜI VỢ
NỮ TÁC GIA
NỮ SINH
MỘT CHUYẾN ĐI
MỘT NGÀY TRỌNG ĐẠI
TỜ TIỀN GIẤY
PHỤ LỤC
LỜI NGƯỜI DỊCH
Sau “Tà dương” và “Thất lạc cõi người”, chúng tôi xin
được giới thiệu đến quý độc giả một tác phẩm tiêu biểu
nữa của Dazai là “Nữ sinh” cùng với năm truyện ngắn
xuất sắc khác. Hầu hết các truyện trong tuyển tập đều
có nhân vật chính là nữ với những miêu tả tâm lý hết
sức tinh tế và cao sang. Không những thành công với
thể loại tự truyện (tư tiểu thuyết), Dazai còn chứng tỏ
bản lĩnh bậc thầy của mình trong việc am hiểu tâm lý
phụ nữ xứ Phù Tang. Qua tác phẩm của Dazai, tâm hồn
Nhật Bản; vốn kiềm nén và khép kín, có thể hiện cũng
rất cô đọng, như thơ Haiku, như kịch No, như phim của
Ozu; lại được chuyên chở qua ngôn ngữ của văn chương
một cách dịu dàng nhưng không kém phần mãnh liệt.
Truyện “Nữ sinh” được dịch từ nguyên tác “Nữ sinh đồ”
(女生徒) trong tập truyện ngắn “Nữ sinh” (女生徒) do
Nhà xuất bản Kadokawa (角川文庫) tái bản có sửa chữa
lần thứ năm năm Bình Thành 21 (2009). Tác phẩm này
được đăng tải lần đầu tiên trên tạp chí “Văn học giới” số
tháng 4 năm 1939. Dựa trên nhật ký của một độc giả nữ
tên là Ariake Shizu (lúc bấy giờ 19 tuổi) gửi cho Dazai
vào tháng 9 năm 1938, Dazai đã viết thành một truyện
vừa xuất sắc nói về biến chuyển nội tâm của một nữ
sinh 14 tuổi gói gọn trong vòng một ngày, từ khi thức
dậy đến khi đi ngủ. Tác phẩm khắc họa rất thành công
tâm lý bi quan hay trầm uất của một thiếu nữ tuổi dậy thì
với một văn phong vô cùng tinh tế. Chính vì vậy, ngay
từ khi ra đời, tác phẩm được giới văn nghệ thời bấy giờ,
tiêu biểu là văn hào Kawabata Yasunari vô cùng tán
thưởng. Đến năm sau, 1940, tác phẩm được giải nhì của
[1]
giải thưởng văn học Kitamura Tokoku . Tác phẩm đã
được tái bản rất nhiều lần và luôn được các độc giả nữ
yêu thích cho đến nay. Bản thân tập nhật ký của Ariake
đã trở thành một tư liệu văn học quý và được trưng bày
tại bảo tàng văn học cận đại Aomori vào tháng 2 năm
2000.
Cũng như “Nữ sinh”, sự tinh tế trong việc miêu tả tâm lý
phụ nữ của Dazai một lần nữa được thể hiện qua truyện
“Nữ tác gia”. Tâm lý của một cô gái nuôi mộng văn
chương hiện ra thật sinh động và thú vị vô cùng.
Là chứng nhân của cuộc thế chiến tàn khốc và là nạn
nhân của thời cuộc, Dazai đã đưa những trải nghiệm cay
đắng của mình vào tác phẩm. Truyện ngắn “Tờ tiền
giấy” nói về sự đảo điên của cuộc thế chiến nhưng vẫn
có một tia sáng ấm áp nhỏ nhoi của tình người. Qua hai
tác phẩm “Một ngày trọng đại” và “Người vợ” những
tâm tình của người phụ nữ Nhật Bản trong ngày mở màn
cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, hay khi bị chồng
phản bội đều hiện ra hết sức chân thật. Riêng truyện
“Một chuyến đi” nói về nhà văn Kasai, một chân dung tự
họa của Dazai, qua đó chúng ta thấy được phần nào sự
cố gắng của tác giả trong việc theo đuổi văn chương,
nhiều khi không phải vì đam mê mà còn vì sinh kế nữa.
Như vậy là sau ba năm ròng rã đọc và dịch Dazai, chúng
tôi đã giới thiệu đến quý độc giả những tác phẩm chính
yếu, xuất sắc nhất của ông, cả tiểu thuyết và truyện
ngắn. Chỉ riêng một số thư từ, vài truyện ngắn khác như
“Kỷ niệm” (思い出), “Vợ của Villon” (ヴィヨンのつま)
và vở kịch “Pháo hoa mùa đông” (冬の花火) là chưa
được dịch và giới thiệu. Hy vọng những tác phẩm đó sẽ
được bổ sung đầy đủ khi ấn hành tuyển tập tác phẩm
của Dazai trong tương lai.
Nagoya, tháng 9 năm 2012
Hoàng Long
NGƯỜI VỢ
Truyện “Người vợ” được dịch từ nguyên tác “Osan”
(おさん) trong tập truyện ngắn “Nữ sinh” (女生徒) do
Nhà xuất bản Kadokawa (角川文庫) tái bản có sửa
chữa lần thứ năm năm Bình Thành 21 (2009), từ trang
215 đến trang 236. Nguyên văn Osan là tên người vợ
của Kamiji (紙治) trong vở tuồng “Joururi” (浄瑠璃)
“Tự sát đôi ở Amijima” (Shinjuten no Amijima - 心中
天の網島), được dựa trên câu chuyện có thật. Kamiji
vốn là một thợ buôn giấy ở Tenma Osaka, qua lại thân
mật với một cô du nữ tên Koharu (小春), bị dằn vặt
giữa nàng với người vợ trinh thục Osan, cuối cùng cùng
với Koharu tự sát đôi ở chùa Daichouji (大長寺)ở
Amijima
(網島)
1
Đi ra từ hành lang, không nghe cả tiếng bước chân như
thể đã bị rút mất linh hồn. Vừa dọn dẹp chén bát sau bữa
cơm tối, tôi vừa cảm nhận được điều đó và thấy buồn
đến mức đánh rơi chiếc dĩa, rồi bất giác thở dài, vươn
thẳng người mở cánh cửa bếp nhìn ra ngoài, thì thấy
bóng dáng buồn bã vô tình của người chồng từ phía sau
trong chiếc áo yukata trắng có sợi dây đai lưng nhỏ quấn
hờ chập chờn hiện ra trong ánh hoàng hôn mùa hạ, như
một bóng ma, như không phải vật sống trong thế giới
này, đang đi trên con đường nhỏ ven bờ giậu có những
cọng bí leo.
“Cha đâu hả mẹ?”
Con bé gái đầu lòng năm nay lên bảy tuổi chơi ngoài sân,
đang rửa chân bằng gàu nước nơi cửa bếp, vô tâm hỏi
tôi như vậy. Con bé này thích cha hơn mẹ, mỗi tối cùng
ngủ chung màn với cha trên tấm futon trải nơi căn
phòng sáu chiếu.
“Đi chùa rồi con.”
Tôi tùy tiện trả lời con bé như vậy nhưng nói xong mới
cảm thấy như mình đã nói một điều gì đó bất thường và
lạnh buốt sống lưng.
“Đến chùa à? Để làm gì cơ?”
“Lễ Obon mà. Vì thế mà cha đi chùa đấy.”
Những lời nói dối cứ thế mà tuôn ra không ngờ. Thực
sự ngày đó đúng là ngày mười ba lễ Obon. Con nhà
người ta mặc áo kimono đẹp đẽ, ra trước cổng nhà, phất
tay áo dài mà chơi đùa thỏa thích, còn quần áo kimono
của mấy đứa con mình bị thiêu cháy hết trong chiến
tranh nên dù lễ Obon cũng mặc mấy quần áo thô mạt
không khác chi thường ngày.
“Vậy ư? Chắc là cha sẽ về sớm nhỉ?”
“Chà, biết sao nhỉ. Nếu bé Masako mà ngoan thì có lẽ
cha sẽ về sớm đấy.”
Mặc dù tôi nói vậy nhưng nhìn điệu bộ của chồng thì tôi
chắc chắn đêm nay lại ngủ lang bạt ở ngoài rồi.
Bé Masako bước vào nhà bếp, rồi đi lên căn phòng ba
chiếu, ngồi nơi cửa sổ với vẻ cô đơn mà ngước nhìn ra
ngoài.
“Mẹ à, cây đậu của Masako nở hoa rồi đấy.”
Con bé lẩm bẩm vậy rồi nước mắt lưng tròng vì cảm
động.
“Đây, đây nữa. A, thực sự rồi. Đậu mọc lên nhiều quá!”
Phía bên hành lang, có một mảnh đất khoảng mười
[2]
tsubo , trước đây tôi có trồng nhiều loại rau trái nhưng
sau khi có ba đứa con thì không còn đụng tay chân đến
công việc đồng áng nữa; ngày xưa chồng tôi cũng đôi
khi giúp đỡ làm vườn nhưng gần đây thì đến việc nhà
cũng không làm chút gì. Mảnh vườn nhà bên được
chăm bón cẩn thận, trồng rất nhiều loại rau tươi ngon
mơn mởn còn vườn nhà mình chỉ toàn cỏ dại, so sánh
thấy mà xấu hổ. Masako mới lấy một hạt đậu được cấp
phát cho mà vùi xuống đất, tưới nước lên vậy mà lại nảy
mầm, đó là thứ tài sản duy nhất của bé Masako không
có lấy một cái đồ chơi nào khác, mỗi lần sang nhà hàng
xóm lại huyên thuyên không biết ngượng là cây đậu nhà
mình thế này, cây đậu nhà mình thế kia.
Sa sút bi thảm. Cô đơn. Không, đối với Nhật Bản bây giờ
mà nói thì không chỉ riêng chúng tôi mà tất cả những
người sống ở Tokyo này nữa, nhìn đâu cũng thấy một
sự sa sút trầm kha, dù chạy quanh quẩn thế nào thì
những vật mà chúng tôi mang theo cũng bị thiêu cháy
hết cả, tuy vậy điều khổ sở bây giờ cấp bách hơn cả sự
sa sút đó là nỗi cực nhọc của một người vợ trong thế
giới này.
Chồng tôi đã làm việc gần mười năm trong một tòa soạn
báo khá nổi tiếng ở Kanda. Khoảng tám năm trước đã
cùng tôi làm một lễ kết hôn giản dị thông qua mai mối.
Rồi thì lúc đó những căn nhà cho thuê ở Tokyo ngày
càng ít đi, nên cuối cùng chúng tôi đã tìm căn nhà nhỏ
này, giống như một căn nhà giữa cánh đồng ở ngoại vi
thành phố, ven tuyến đường tàu chính Chuosen và sống
ở đây cho đến khi đại chiến tranh xảy ra.
Chồng tôi vì cơ thể yếu nhược nên được miễn trưng
dụng và triệu tập nên cứ mỗi ngày vô sự đến làm việc
chỗ tòa soạn báo, nhưng rồi chiến tranh khốc liệt hơn, vì
vùng ngoại vi thành phố chỗ tôi ở có xưởng sản xuất
máy bay nên bom đạn thường xuyên rơi xuống sát ngay
nhà, cuối cùng vào một đêm bụi trúc sau nhà trúng
bom, thế là nhà bếp, nhà vệ sinh với căn phòng ba chiếu
tan hoang hết cả. Gia đình bốn người chúng tôi (lúc đó
ngoài bé Masako ra thì trưởng nam Yoshitaro cũng mới
vừa được sinh) không thể nào tiếp tục sống trong căn
nhà hư hoại như vậy được nữa nên tôi cùng hai đứa con
tản cư về quê nhà ở thành phố Aomori, còn chồng tôi thì
quyết định ở lại trong căn phòng sáu chiếu, tiếp tục đi
làm tòa soạn báo như thường lệ.
Tuy nhiên chúng tôi tản cư về thành phố Aomori chưa
đến bốn tháng thì thành phố này đã bị không kích dữ
dội, toàn thành phố bị phá hủy, khổ sở vô cùng, tất cả
đồ đạc mang theo bị cháy trụi hết, trong cảnh thê thảm
trắng tay, chúng tôi đến nương nhờ nhà một người quen
còn sót lại ở thành phố Aomori, hỗn loạn như thấy giấc
mơ địa ngục. Chừng khoảng mười ngày ăn nhờ ở đậu
như vậy thì Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện. Tôi nhớ
chồng mình đang sống ở Tokyo nên mới dắt díu hai đứa
con thất thểu như kẻ ăn mày quay ngược về Tokyo, rồi
vì không có căn nhà nào khác để dọn đi nên mới nhờ vả
người thợ mộc sửa chữa qua loa căn nhà hư hỏng hơn
phân nửa đó, quay trở lại cuộc sống đầm ấm của gia
đình như trước kia, vừa mới thở phào được một chút thì
tâm tính chồng tôi thay đổi.
Tòa soạn báo bị hư hại, rồi những người đứng đầu tranh
cãi nhau về vốn liếng nên cuối cùng phá sản, chồng tôi
lập tức trở thành kẻ thất nghiệp, nhưng vì làm việc cho
tòa soạn báo nhiều năm nên có rất nhiều người quen biết,
trong số đó có một vị có thế lực xuất vốn ra thành lập
một nhà xuất bản mới, và đã xuất bản được hai ba chủng
loại sách. Nhưng công việc xuất bản rồi thì việc mua
giấy cũng thất bại, tổn thất khá lớn, chồng tôi mang nợ
rất nhiều, nên mỗi ngày ngơ ngẩn rời khỏi nhà rồi đến tối
trở về với bộ dạng mệt lử, vốn trước đây là người ít nói
từ dạo ấy thì câm lặng luôn. Đến khi tổn thất của việc
xuất bản đã được bù đắp phần nào thì chồng tôi chẳng
còn khí lực để làm việc gì nữa. Chồng tôi mỗi ngày cứ
đứng trầm ngâm bên khung cửa sổ, suy nghĩ điều gì,
vừa hút thuốc vừa nhìn ra chân trời xa xăm. Khi tôi cảm
thấy lo lắng “aa, lại bắt đầu rồi chăng” thì chồng tôi thở
dài như thể không thể làm gì được nữa rồi vứt mẩu
thuốc đang hút dở ra ngoài sân, lấy cái ví trong ngăn kéo
nhét vào túi, rồi lặng lẽ bước ra từ hành lang không tiếng
động như thể một người bị rút mất linh hồn và thường
thì tối đó không trở về nhà.
Một người chồng tốt và dịu dàng. Rượu uống chừng một
chai, bia uống một lon còn thuốc lá tuy có hút nhưng ở
tầm vừa đủ số lượng thuốc được cấp phát, cưới nhau đã
gần mười năm mà anh ấy chưa từng đánh đập hay la
mắng tôi một lần nào. Chỉ có một lần khi có khách đến
nhà chơi, lúc ấy bé Masako mới chừng ba tuổi thì phải,
anh ấy pha trà mời khách bị tràn ra mới gọi tôi nhưng lúc
ấy tôi đang quạt lò trong bếp không nghe. Thấy không
trả lời, chồng tôi, chỉ lúc ấy thôi mới làm ra vẻ mặt sưng
sỉa ôm bé Masako xuống bếp, đặt bé xuống phản, rồi
trừng trừng nhìn tôi đầy sát khí, cứ đứng chôn chân
như vậy một lúc lâu không nói lời nào rồi xoay lưng về
phía tôi mà đi về phòng, đóng cánh cửa giấy đánh sập
một tiếng lớn như vọng vào đến tủy xương tôi khiến tôi
run bắn người đi vì sợ. Tôi nhớ là mình bị chồng giận
chỉ có một lần đó thôi, tuy vì chiến tranh mà tôi cũng
vất vả khổ sở như những người khác nhưng mỗi lần nghĩ
đến sự dịu dàng của chồng, tôi nhủ thầm rằng trong tám
năm qua mình là người hạnh phúc.
(Thành một con người khác rồi. Chuyện đó bắt đầu từ
khi nào nhỉ? Sau khi trở về từ nơi sơ tán ở Aomori, sau
khoảng bốn tháng mới gặp mặt, tôi thấy vẻ mặt chồng
có cái gì đê tiện, thái độ cứ nhấp nha nhấp nhổm như
tránh ánh mắt nhìn của tôi nhưng tôi cho rằng đó chỉ là
vì chồng tôi sống thiếu thốn một mình đã lâu nên mới
tiều tụy như vậy rồi cảm thấy đau lòng. Hay là trong bốn
tháng đó, à mà thôi, không nghĩ nữa, càng nghĩ thì càng
vùi sâu vào vũng bùn khổ sở mà thôi).
Chắc hẳn là chồng mình không về, nên tôi mới trải mền
futon của chồng với futon của bé Masako ra rồi vừa
giăng màn, tôi vừa cảm thấy khổ sở và buồn bã.
2
Đến trước buổi trưa ngày hôm sau, khi tôi đang giặt tã
của đứa con gái thứ hai là bé Toshiko vừa mới sinh vào
mùa xuân năm nay bên thành giếng cạnh hiên nhà thì
chồng tôi giơ cái mặt tối tăm như thằng kẻ trộm nhẹ
nhàng tiến đến, nhìn tôi, im lặng cúi mặt rồi vấp ngã chúi
đầu đi về phía hành lang. Bất giác cúi đầu trước vợ mình
vậy thì ra anh ấy cũng khổ. Nghĩ như vậy, tôi thấy ngực
nghẹn ngào, không sao giặt đồ tiếp được nữa nên đứng
dậy theo chồng đi vào nhà.
“Nóng lắm phải không anh? Hay thử cởi trần ra xem
sao? Sáng nay người ta cấp phát phần lễ Obon được hai
chai bia. Em đã ướp lạnh sẵn rồi. Anh uống nhé?”
Chồng tôi nhấp nhổm rồi cười yếu ớt.
“Đằng ấy tuyệt vời nhỉ!”
Giọng nói thiếu điều muốn đứt hơi.
“Vậy mình với mẹ nó uống mỗi người một chai nhé!”
Nhìn thấu rồi nhé, nói ra lời như bợ đỡ cơ đấy.
“Thế thì em sẽ tiếp mình vậy!”
Người cha đã mất của tôi là một tay bợm rượu nên có lẽ
vì thế chăng mà tửu lượng của tôi còn mạnh hơn chồng
nữa. Hồi mới cưới nhau, tôi với chồng hai người đi đến
Shinjuku, vào các quán Oden uống rượu. Chồng tôi ngay
lập tức mặt đỏ gay rồi nói không được nữa, còn tôi vẫn
chẳng thấy gì, có chăng là tiếng ong ong ở trong tai mà
thôi.
Trong căn phòng ba chiếu, lũ trẻ ăn cơm, chồng tôi cởi
trần, cái khăn ướt khoác trên vai, uống bia. Tôi chỉ làm
một cốc rồi sau đó thấy lãng phí nên thôi, ôm bé
Toshiko mà cho bú. Bề ngoài nhìn như một gia đình đầm
ấm nhưng thực ra chẳng dễ chịu gì, chồng cứ lảng tránh
tia nhìn của tôi còn tôi cũng phải chọn những chuyện để
không chạm đến nỗi đau của chồng mình thành ra câu
chuyện cứ lạc lõng. Con bé Masako với thằng em
Yoshitaro hình như cũng mẫn cảm với tâm tình của cha
mẹ nên rất đỗi ngoan ngoãn chấm bánh mì hấp vào cốc
trà có bỏ đường hóa học mà ăn ngon lành.
“Rượu uống buổi trưa, say đấy nhỉ?”
“Ừ, đúng nhỉ, cả người cứ đỏ au lên này.”
Lúc đó mới thoáng nhìn tôi một tí. Dưới cằm của chồng
tôi có một con nhậy màu tím bám vào, không, không
phải là con nhậy đâu, khi nhìn thoáng vết bớt hình con
nhậy, đột nhiên tôi nhớ đến chuyện lúc mới vừa cưới
nhau. Chồng tôi hình như cũng ngay lập tức nhận ra nên
mới nhấp nhổm dùng đầu chiếc khăn ướt đang vắt trên
vai vụng về che vết bớt bị cắn đó. Mặc dù hiểu rằng
ngay từ đầu chồng tôi khoác chiếc khăn ướt trên vai là
để che giấu hình dáng con nhậy nhưng tôi làm ra vẻ như
chẳng nhận thấy gì, tiếp tục cố gắng.
“Bé Masako được ngồi cùng cha, ăn cơm thấy ngon lành
quá nhỉ!”
Tôi thử nói đùa như vậy nhưng chồng tôi nghe có vẻ
mỉa mai hay sao đó nên mặt mũi trắng bệch ra, khi nỗi
khổ sở của tôi đến mức cực hạn thì đột nhiên tiếng radio
nhà hàng xóm bắt đầu phát bài quốc ca Pháp, chồng tôi
lắng tai nghe:
“A, ra vậy, thì ra hôm nay là ngày kỷ niệm cách mạng
Pháp.”
Và thầm thì như độc thoại, rồi mỉm cười, như nói cho tôi
và bé Masako nghe:
“Ngày mười bốn tháng bảy, ngày này đây, cách mạng...”
Chồng tôi nói dở giữa chừng như vậy rồi ngưng. Tôi liếc
nhìn, thấy chồng tôi miệng méo xệch, nước mắt ầng ậc
trên mi, khuôn mặt nhìn như muốn khóc rồi cất giọng
nghẹn ngào.
“Phá ngục Bastille, dân chúng nhé, từ khắp nơi vùng
dậy, rồi sau đó dù bữa tiệc hoa mùa xuân của Pháp đã
vĩnh viễn, vĩnh viễn mất đi nhưng cũng phải phá hoại, dù
cho hiểu rằng sự kiến thiết một thứ đạo đức mới, một
trật tự mới vĩnh viễn không thể nào thực hiện được
nhưng vẫn phải phá hoại thôi, cách mạng vẫn chưa hoàn
thành; Tôn Dật Tiên nói vậy rồi chết nhưng việc hoàn
thành cách mạng có lẽ vĩnh viễn chẳng bao giờ được,
tuy vậy cũng vẫn phải làm cách mạng, bản chất của
cách mạng là thứ đẹp và đau khổ; nói rằng sẽ làm
chuyện như thế, mình sẽ trở thành gì đây, nỗi đau khổ,
vẻ đẹp ấy, và rồi tình yêu...”
Bài quốc ca Pháp vẫn tiếp tục, chồng tôi vừa nói vừa
khóc, rồi sau đó chừng như thấy ngượng nên lại cố nặn
ra một nụ cười khinh khỉnh.
“Chà, có vẻ cha là một tay say rượu khóc nhè rồi.”
Nói vậy rồi ngoảnh mặt đứng dậy, đi ra bếp rửa mặt.
“Không được rồi. Say quá. Lại khóc vì cách mạng Pháp
nữa chứ. Đi ngủ chút đây.”
Chồng tôi nói rồi đi vào căn phòng sáu chiếu, sau đó là
lặng yên nhưng chắc chắn là nằm co mình mà khóc sụt
sịt thôi.
Chồng tôi không phải khóc vì cách mạng. Không, nhưng
có lẽ cách mạng Pháp và tình yêu gia đình thì cũng
giống nhau. Cái nỗi khổ của chồng tôi phải phá hoại cái
vương triều lãng mạn Pháp và cái gia đình êm ấm vì thứ
đẹp và buồn ấy thì tôi cũng hiểu rõ nhưng vì yêu chồng
nên tuy không phải là người vợ Osan của Kamiji ngày
xưa, cũng ca thán:
Trong ngực vợ mình
có một con quỷ trú ngụ
A, a, a
hay là con rắn độc chăng?
Nếu bỏ qua mọi chuyện làm ra vẻ như chẳng liên quan
gì đến tư tưởng cách mạng và tư tưởng phá hoại, thì còn
một người vợ bị bỏ lại ở một chỗ này, một tư thế này lúc
nào cũng chỉ thở dài buồn bã. Cuối cùng chuyện này là
như thế nào đây? Phó mặc vận mệnh cho ông trời, cầu
mong cho cơn gió tình yêu của chồng đổi hướng, rồi cứ
nhẫn nại phục tùng vậy sao? Cũng đã có đến ba đứa con
rồi, vì những đứa con mà không thể nào chia tay chồng
được nữa.
Khoảng hai đêm ngủ lang bạt ở ngoài thì cũng có một
đêm chồng tôi ngủ ở nhà. Cơm tối xong, chồng cùng
các con chơi đùa ngoài hành lang, còn nói những lời đùa
cợt ti tiện với lũ trẻ nữa, vụng về bế đứa con gái út mới
sinh năm nay lên mà khen:
“Mập lên rồi đấy nhé, cô bé mỹ nhân này.”
Tôi cũng chợt nói, không có ý gì:
“Dễ thương đúng không? Nhìn thấy con cái mình như
vậy chắc ai cũng muốn mình sống lâu đấy.”
Vẻ mặt chồng ngay lập tức biến đổi.
“Không đâu.”
Vì nghe chồng trả lời với vẻ khổ sở như vậy nên tôi bất
giác kinh ngạc, mồ hôi lạnh túa ra đầm đìa.
Khoảng tám giờ, lúc đi ngủ, chồng tôi trải cái futon của
mình và của bé Masako trong căn phòng sáu chiếu rồi
giăng màn, con bé Masako có vẻ còn muốn chơi với cha
thêm chút nữa nhưng bị cha bắt thay đồ rồi ngủ, sau đó
chồng tôi cũng tắt đèn.
Tôi dỗ đứa con trai và con bé gái thứ hai ngủ trong căn
phòng bốn chiếu rưỡi bên cạnh rồi khâu vá đến khoảng
mười một giờ thì giăng màn chui vào giữa hai đứa bé mà
ngủ không phải theo hình chữ “xuyên” (川) mà chụm
đầu vào nhau theo hình chữ “tiểu” (小).
Không thể nào ngủ được. Phòng bên chừng như chồng
tôi cũng vậy, tôi nghe thấy tiếng thở dài. Bất giác tôi
cũng thở dài theo và lại nhớ đến bài ca than khóc:
Trong ngực vợ mình
có một con quỷ trú ngụ
A, a, a
hay là con rắn độc chăng?
Chồng tôi thức dậy, lần sang bên này. Tôi cứng người lại
nhưng nghe chồng tôi bảo:
“Thuốc ngủ hết rồi sao em?”
“Có đấy, nhưng đêm qua em uống hết rồi. Chẳng có
chút hiệu quả gì anh ạ!”
“Nếu uống nhiều quá thì ngược lại chẳng có công hiệu
gì đâu. Uống chừng sáu viên là vừa đủ đấy.”
Giọng nói chồng tôi có vẻ khó chịu.
3
Mỗi ngày, mỗi ngày, nắng nóng kéo dài. Vì trời nóng và
vì lo lắng nữa nên đến bữa tôi không thể nào nuốt trôi,
xương gò má nhô lên, đầu vú cho con bú cũng teo lại,
còn chồng tôi cũng chẳng ăn uống được chút gì, hai mắt
lõm sâu xuống, lấp lánh những tia nhìn đáng sợ, đôi khi
tự xỉ vả mình rồi lại cười khùng khục, còn nói là:
“Chẳng thà phát điên lên còn vui hơn em ạ.”
“Em cũng vậy đấy.”
“Người đúng chắc chắn không có gì phải khổ sở cả đâu.
Anh cảm động lắm! Tại sao mẹ con em lại nghiêm túc,
lương thiện như vậy? Đáng lẽ ngay từ đầu phải có sự
phân biệt rõ những con người được sinh ra để sống đàng
hoàng trong thế giới này với những con người không
phải như thế chứ.”
“Không đâu, em chậm chạp ngu muội lắm, chỉ là...”
“Chỉ là...”
Chồng tôi nhìn tôi với ánh mắt vô cùng kỳ lạ như của
người điên.
Tôi ngậm miệng. Ah, không thể nào nói được. Những
chuyện cụ thể thật đáng sợ, không thể nói gì.
“Chỉ là thấy anh khổ sở như vậy làm em cũng khổ tâm
theo.”
“Cái gì chứ, vớ vẩn.”
Chồng tôi nhẹ người mà mỉm cười nói vậy.
Lúc đó, đột nhiên tôi hưởng thụ được cảm giác hạnh
phúc mát lành đã lâu rồi không có được. (Đúng vậy, chỉ
cần làm cho tâm trạng của chồng mình trở nên vui vẻ
thì tâm trạng của tôi cũng vui vẻ theo. Chẳng cần đạo
đức gì, chỉ cần tâm trạng vui vẻ là được).
Khuya hôm đó, tôi chui vào màn của chồng.
“Được rồi, được rồi. Anh đừng suy nghĩ gì cả.”
Tôi nói vậy rồi ngả người vào thì chồng tôi cất giọng
khàn khàn.
[3]
“Thứ lỗi cho anh, Escuse me.”
Chồng tôi nói như đùa cợt rồi ngồi dậy xếp bằng trên
giường.
[4]
“Đừng phiền, đừng phiền. Don't mind, don't mind.”
Đêm mùa hạ trăng tròn, có bốn năm tia sáng từ khe hở
của tấm liếp che xuyên vào màn, rọi lên tấm ngực trần
gầy gò của chồng tôi.
“Anh gầy đi nhiều đấy.”
Tôi bật cười và nói đùa như vậy rồi cũng ngồi dậy.
“Em mới gầy đi đấy. Cứ lo lắng không đâu nên mới vậy
mà.”
“Không đâu, chẳng phải em đã nói rồi sao. Được rồi,
anh đừng suy nghĩ gì nữa, bởi vì em nhạy cảm đấy. Chỉ
có điều đôi khi cũng phải yêu chiều em tí chứ.”
Tôi nói vậy và bật cười. Chồng tôi cũng cười, nhe hàm
răng trắng ởn trong ánh trăng. Khi tôi còn nhỏ, ông bà
tôi cũng thường cãi nhau, mỗi lần thế bà lại nói với ông
là “yêu chiều em đi chứ” đến nỗi lúc ấy tôi còn là trẻ con
mà cũng thấy buồn cười, rồi sau khi cưới cũng kể cho
chồng nghe, cả hai đứa cùng cười lăn cười bò.
Lúc đó khi nghe tôi nói như vậy, chồng tôi quả thật có
cười nhưng ngay lập tức lại làm ra vẻ mặt nghiêm túc.
“Anh dự định làm một việc quan trọng. Bất chấp sự chỉ
trích của thế gian, anh cũng định làm một việc quan
trọng. Em thực sự là một người tốt. Đừng lo lắng đến
những chuyện không đâu. Hãy bình tâm lại và có lòng tự
hào. Anh lúc nào cũng chỉ nghĩ cho em thôi. Về điểm
này thì dù em có thể tự tin đến mấy cũng không thừa
đâu.”
Tự nhiên nói ra toàn những chuyện mất hứng, nghiêm
trang đáng ghét nên tôi khó chịu, cúi mặt mà lí nhí.
“Nhưng mà anh đã thay đổi rồi đấy.”
(Em chẳng thà không được anh nghĩ đến, chẳng thà bị
anh ghét, căm hận thì tâm tư em có lẽ còn thoải mái
hơn. Nghĩ cho em đến mức như vậy mà còn đi ôm ấp
người khác, cái kiểu cách đó của anh đã đẩy em xuống
địa ngục rồi).
Có lẽ đàn ông thường hiểu lầm rằng lúc nào cũng nghĩ
về vợ mình là đạo đức chăng? Cho dù có thích người
khác đi nữa mà vẫn không quên vợ mình là điều đúng
đắn, là lương tâm, chẳng phải đàn ông thường xuyên
nghĩ phải như vậy hay sao? Và hễ bắt đầu yêu người
khác rồi là cứ thở dài u uất trước vợ mình, bắt đầu cảm
thấy dằn vặt về đạo đức, vì thế mà người vợ cũng cảm
nhiễm cái u uất của chồng mình, rồi cũng thở dài theo,
rồi nếu người chồng vui vẻ bình thường thì người vợ
cũng sống mà không nghĩ đến địa ngục. Nếu yêu người
ta, xin hãy quên vợ mình đi mà yêu cho tận tụy, cho
miệt mài!
Chồng tôi cười như không có chút sức lực nào.
“Thay đổi à? Không có thay đổi đâu. Chỉ có điều dạo
này trời nóng quá. Nóng không sao chịu nổi. Đành phải
[5]
xin lỗi excuse me mùa hạ thôi.”
Vì không biết bám víu vào đâu nên tôi hơi mỉm cười.
“Đúng là con người đáng ghét.”
Tôi nói vậy rồi bắt chước chồng, lập tức chui ra khỏi
màn về chỗ của mình, chen vào nằm giữa hai đứa con
mà ngủ theo hình chữ “tiểu” (小).
Tuy nhiên, chỉ cần nũng nịu, nói chuyện và cười với
chồng như thế thôi là tôi cũng vui và cảm thấy cái khối
ngưng kết trong ngực mình đã tan ra một chút, đêm đó
tôi đã ngủ được một giấc lơ mơ đến sáng mà không trằn
trọc suy tư.
Từ giờ trở đi tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Cứ duy trì
tình trạng này, nũng nịu với chồng, nói đùa, vờ vĩnh một
chút thì có chuyện gì nữa cũng không sao, không cần
có thái độ đúng đắn cũng chẳng hề gì, đạo đức gì cũng
được, chỉ là muốn sống vui vẻ một chút, lâu lâu, cho dù
một giờ hai giờ vui vẻ là được, bám víu vào chồng làm
sao trong nhà cất tiếng cười vui vẻ là xong. Đúng lúc tôi
định thực hiện điều ấy thì một buổi sáng kia, chồng tôi
nói là muốn đi suối nước nóng.
“Anh nhức đầu quá. Đúng là chịu thua cái nóng mất rồi.
Ở gần suối nước nóng Shinshu anh có một người quen
bảo rằng cứ đến chơi bất cứ lúc nào cũng được, không
cần lo lắng mang theo gạo muối làm gì đâu. Anh muốn
đến đó tĩnh dưỡng chừng hai ba tuần. Cứ như thế này thì
anh sẽ phát điên lên mất. Trước hết anh muốn thoát khỏi
Tokyo cái đã.”
Bất chợt tôi nghĩ là chồng mình đi du lịch vì muốn trốn
chạy người ấy.
“Trong lúc anh đi vắng, lỡ có trộm vào thì làm thế nào?”
Khi tôi vừa cười (những người buồn bã thì thường hay
cười) vừa hỏi vậy thì chồng tôi trả lời:
“Thì em cứ nói với bọn trộm là ông chồng tôi bị điên rồi.
Bọn trộm chắc cũng không nỡ ra tay với người điên
đâu.”
Vì không có lý do gì để phản đối chồng đi du lịch, tôi
mới mở ngăn tủ định lấy đồ mùa hè của chồng ra, nhưng
tìm khắp nơi mà chẳng thấy.
Tôi xanh xám cả mặt.
“Không có. Chuyện gì vậy nhỉ? Mình ở nhà hoang hay
sao?”
“Anh bán rồi.”
Chồng tôi cười mà như sắp khóc, trả lời như vậy.
Tôi kinh ngạc nhưng giả vờ như không.
“Nhanh vậy sao?”
“Cái này còn ghê gớm hơn cả ăn trộm nữa đấy.”
Tôi nghĩ chắc chắn là chồng cần tiền vì người đàn bà ấy.
“Vậy thì anh sẽ mặc gì đây?”
“Chỉ cần một mảnh áo sơ mi hở cổ là được.”
Vừa mới nói buổi sáng, buổi trưa chồng tôi đã định đi.
Dù muốn rời nhà sớm phút nào hay phút ấy, nhưng hôm
đó Tokyo giữa những ngày nắng nóng kéo dài lại đổ một
trận mưa rào. Chồng tôi khoác ba lô, đi giày, ngồi ở bậc
thềm hành lang, vẻ mặt rất hấp tấp vội vàng chờ cho
mưa tạnh, bất chợt nói lẩm bẩm:
“Cây bách nhật hồng hình như cứ cách một năm mới nở
hoa một lần thì phải.”
Cây bách nhật hồng trước hành lang năm nay không nở
hoa.
“Chắc là vậy đấy.”
Tôi trả lời bâng quơ.
Đó là cuộc nói chuyện thân thiết có vẻ vợ chồng cuối
cùng của hai chúng tôi.
Trời tạnh mưa, chồng tôi vội vàng rời khỏi nhà như chạy
trốn rồi; ba ngày sau, trên báo có một bài nhỏ viết về vụ
tự sát đôi ở hồ Suwako.
Sau đó, tôi nhận được bức thư của chồng tôi gửi từ lữ
quán ở Suwa.
“Cái chết của anh với người con gái này không phải vì
tình yêu. Anh là một ký giả. Ký giả phải dụ dỗ con
người ta vào con đường cách mạng và phá hoại đồng
thời phải toát mồ hôi mà tìm cách thoát ra khỏi đó.
Đúng là một sinh vật kỳ quái. Là một con ác ma thời
hiện đại. Anh không chịu nổi sự căm ghét chính bản
thân mình mới quyết tâm leo lên cây thánh giá của nhà
cách mạng. Một vụ tai tiếng của ký giả. Chắc đây là
một sự việc chưa từng có tiền lệ chăng? Cái chết của
anh nếu giúp được sự phản tỉnh hay hổ thẹn nơi những
con ác ma hiện đại dù chỉ một chút thôi thì anh cũng lấy
làm vui mừng.”
Đại khái trong lá thư viết cho tôi toàn những điều ngu
ngốc và vớ vẩn như thế. Có lẽ đàn ông cho đến lúc chết
cũng phải ra uy, dối trá hành xử như thể hành vi của
mình cũng phải có một ý nghĩa gì đó chăng?
Nhờ hỏi thăm bạn bè của chồng, tôi mới biết được rằng
người phụ nữ kia là một ký giả hai mươi tám tuổi, làm ở
tòa soạn báo Kanda nơi trước kia chồng tôi từng làm
việc. Nghe nói trong khi tôi đi sơ tán ở Aomori thì cô ta
đến tá túc ở ngôi nhà này, rồi thì bầu bì hay gì đó, dù chỉ
vì thế thôi mà chồng tôi náo động om sòm lên là cách
mạng gì gì đó rồi tự sát thì thật đúng là càng nghĩ càng
thấy chồng tôi là con người không ra gì.
Tiến hành cách mạng là để con người ta sống vui. Tôi
không tin vào nhà cách mạng có gương mặt bi tráng. Tại
sao chồng tôi không thể công khai yêu người con gái đó
một cách vui vẻ để làm cho vợ mình cũng vui vẻ theo?
Thứ tình yêu địa ngục ấy đối với đương sự có thể là một
nỗi khổ đau riêng nhưng lại gây phiền hà đến bao nhiêu
người khác. Nếu như có thể thay đổi phần nào cảm xúc
của mình bằng một cuộc cách mạng chân chính thì
chắc chắn đâu phải là chuyện gì khó khăn. Vậy mà sự
gớm ghê của cái thập tự giá cách mạng chẳng thay đổi
được một chút cảm xúc nào đối với vợ mình cả. Sự ngu
ngốc đến mức kinh ngạc ấy làm tôi phiền muộn rã rời
hơn là cảm thấy buồn thương và giận dữ khi đưa ba đứa
con lên tàu điện đi nhận xác chồng ở Suwa.
NỮ TÁC GIA
Truyện được dịch từ nguyên tác “Chiyojo” (千代女)
trong tuyển tập truyện ngắn “Nữ sinh” (女生徒) của
văn hào Dazai Osamu (太宰治) do nhà xuất bản
Kadokawa
(角川文庫) ấn hành khổ ...
 





