Chào mừng 80 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12/1944 - 22/12/2024)
Hồ Chí Minh Chân dung một cuộc đời

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 06h:06' 20-11-2024
Dung lượng: 2.8 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 06h:06' 20-11-2024
Dung lượng: 2.8 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
HỒ CHÍ MINH - CHÂN DUNG MỘT CUỘC ĐỜI
Nguyên bản “HO CHI MINH, A LIFE”
Tác giả: WILLIAM J. DUIKER
Người dịch: NGUYỄN HỌC - LÂM HOÀNG MẠNH
Được sự chấp thuận của tác giả William J. Duiker
Ebook: Cuibap
Nguồn text: kbchaingoai.wordpress.com
https://thuviensach.vn
Kính tặng nhân dân Việt Nam
WILLIAM J. DUIKER
https://thuviensach.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Tôi bị thu hút bởi Hồ Chí Minh từ giữa những nǎm 1960 khi còn là một
cán bộ ngoại giao trẻ tuổi làm việc tại toà đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Tôi lấy
làm khó hiểu khi thấy những du kích Việt cộng chiến đấu trong rừng tỏ ra
có kỷ luật và năng động hơn đội quân chính phủ Nam Việt, đồng minh của
chúng tôi. Tìm hiểu vấn đề, tôi được giải thích, đó là do vai trò của người
sáng lập và nhà chiến lược cựu trào bậc thầy cách mạng Việt Nam - Hồ Chí
Minh. Sau khi thôi phục vụ trong chính quyền Hoa Kỳ theo đuổi sự nghiệp
khoa học, tôi có ý định viết một cuốn tiểu sử về con người kỳ lạ này.
Nhưng ngay lập tức tôi nhận ra, trong bối cảnh lịch sử thời kỳ đó, chưa thể
có đầy đủ điều kiện để tiếp cận các nguồn thông tin. Vì thế tôi đành bỏ ý
định, cho mãi đến những năm gần đây, thế giới trở nên cởi mở hơn, các
nguồn tin tràn đầy vì thế đã thúc đẩy tôi bắt tay vào công việc khó khăn
này.
Trong quá trình hoàn thành cuốn sách, tôi đã phải mất hơn hai thập niên
trăn trở, nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của bè bạn cùng các quỹ của các
cơ quan và hội đoàn. Quỹ nghiên cứu của trường College of Liberal Arts
cũng như của Institute for the Art & Humanistic Studies thuộc trường
Pennsylvania State University đã tài trợ kinh phí những lần tôi sang Pháp
và Việt Nam để thực hiện đề tài nghiên cứu. Thông qua trợ lý Mark Side
của Ford Foundation, tôi hân hạnh được tháp tùng Marilyn Young và A.
Tom Grunfeld trong chuyến đến Hà nội năm 1993 để tìm hiểu mối quan hệ
giữa Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ. Nhân đây tôi cũng xin cám ơn Ủy ban
Nghiên cứu Khoa học Xã hội, Chương trình trao đổi Khoa học Đông
https://thuviensach.vn
Dương của Ủy ban và Viện Mác-Lênin đã cấp học bổng tài khoá năm 1990
trong thời gian làm đề tài nghiên cứu. Khi tôi ở đó, Viện Sử Học, Viện
Marx-Lenin đã tạo mọi điều kiện cho tôi được trao đổi, thảo luận các chủ
đề khác nhau về Hồ Chí Minh và lịch sử cách mạng Việt Nam. Học viện
Quan hệ Quốc tế đã tài trợ chuyến đi trước đó - 1985 - kể cả chuyến đi thú
vị thăm làng Kim Liên, quê hương của Hồ Chí Minh. Trong số những cá
nhân trợ giúp trong thời gian tôi nghiên cứu ở Hà nội, tôi chân thành cảm
ơn Nguyễn Huy Hoan - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Nguyễn Thanh - Bảo tàng
Cách mạng và Trần Thành - Viện Mác-Lênin, tất cả đồng ý trả lời những
cuộc phỏng vấn chiếm nhiều thời gian. Tại Đại học Tổng hợp Hà Nội,
những nhà sử học Phùng Hữu Phú, Lê Mậu Hãn, Phạm Xanh và Phạm
Công Tùng vui lòng dành cho tôi thời gian, cung cấp những tư liệu về đời
sống và tư tưởng của Hồ Chí Minh. Cố Viện trưởng Bảo tàng Hồ Chí Minh
Hà Huy Giáp và Đặng Xuân Kỳ, khi đó là Viện trưởng Viện Khoa học Xã
hội, vui lòng trả lời những câu hỏi của tôi đối với những hồi ức cá nhân của
họ về chủ tịch Hồ Chí Minh. Đỗ Quang Hưng, Ngô Phượng Bá, Văn Tạo,
Trần Hữu Định tại Viện Sử học và Lưu Doãn Huỳnh thuộc Viện Quan hệ
Quốc tế đã không quản ngại thời gian giúp đỡ tôi khai thác những vấn đề
then chốt trong đề tài nghiên cứu.
Tôi cũng đặc biệt cám ơn ông Vũ Huy Phúc, đã kiên nhẫn và rất hiếu
khách, ông vừa tháp tùng vừa là cộng sự trong chuyến thăm Việt Nam năm
1990. Mới đây, ông Hoàng Công Thuỷ thuộc Hội hữu nghị Việt-Mỹ đã
giúp tôi tiếp xúc nhiều người và nhiều nguồn khác nhau khi tôi đi theo
đường mòn Hồ Chí Minh. Dương Trung Quốc - chủ bút tạp chí Xưa Nay,
cung cấp cho tôi một số tạp chí rất hữu ích. Nguyễn Quốc Uy thuộc Việt
Nam Thông tấn xã đã vui lòng cho tôi được in lại trong cuốn sách này một
số bức ảnh thuộc bản quyền Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tôi đã đi thăm một số thư viện và các kho lưu trữ khắp thế giới để tìm
kiếm những thông tin về những chuyến đi của Hồ Chí Minh. Ở Hoa Kỳ, tôi
cám ơn nhân viên Ban Đông Phương thuộc thư viện Quốc hội và Allan
Riedy, giám đốc của Echols Collection tại Thư viện Kroch, Đại học
https://thuviensach.vn
Cornell. Tại Lưu trữ quốc gia Mỹ ở College Park, Maryland, John Taylor
và Larry McDonald có những giúp đỡ giá trị trong việc tìm kiếm văn bản
lưu trữ của O.S.S (Office of Straticgic Service - Cơ quan Tình báo Chiến
lược Mỹ) và các văn bản của Bộ Ngoại giao liên quan tới quan hệ Việt-Mỹ
trong và sau Thế chiến II.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Thư viện Quốc gia, Cục Lưu
trữ Quốc gia Paris, đặc biệt Trung tâm Lưu trữ của Section Outre-Mer của
tỉnh Aix-en của Pháp quốc. Trong chuyến thăm viếng Moscow năm 1990,
Gennadi Maslov, Yevgeny Kobelev và Oxana Novakova đã có những buổi
trao đổi rất hữu ích khi thảo luận những vấn đề về mối quan hệ của Hồ Chí
Minh trong những năm sống ở Liên xô, đồng thời Sophia Quinn-Judge và
Steve Morris đã cung cấp cho tôi nhiều tài liệu quý giá mà họ đã thu thập
được trong kho lưu trử của Đệ Tam Quốc tế. Lê Hiển Hoành của Bảo tàng
Cách mạng tỉnh Quảng Châu đã cung cấp những kết quả nghiên cứu của
chính ông về những năm tháng HCM sống trong thành phố và đưa tôi đi
thăm quan một cơ sở đào tạo thú vị mà trước kia ông đã từng tham gia
giảng dạy bẩy mươi năm về trước.
Tôi cũng cám ơn Tào Binh Vị và Diệp Hân tại Viện Nghiên cứu Quốc tế
Bắc Kinh qua cuộc phỏng vấn tốn nhiều thời gian năm 1987 về những mối
quan hệ Hoa-Việt. Bob O'Hara đã giúp tôi thu thập những tài liệu liên quan
từ Cục lưu trữ Quốc gia ở London. Trong việc nghiên cứu, tôi rất vui vì có
nhiều cách khác nhau để tiếp cận mà tôi là người đại diện. Tôi cũng cám ơn
giáo sư Laura Tabili, Đại học Arizona, đã cung cấp những chỉ dẫn trong
việc tìm kiếm những nguồn thông tin khác trong những năm Hồ Chí Minh
sống ẩn dật ở Anh, cũng như nhân viên chi nhánh Hong Kong thuộc Cục
Lưu trữ Quốc gia Anh tạo điều kiện cho tôi sử dụng những tài liệu lưu trữ
liên quan tới thời kỳ Hồ Chí Minh bị tù ở đó vào đầu thập niên 1930. Đại
sứ T.N. Kaul cũng giúp ích cho tôi trong việc trao đổi những kỷ niệm của
ông về cuộc gặp gỡ giữa thủ tướng Jawaharlal Nehru và Chu Ân Lai mùa
hè năm 1954.
https://thuviensach.vn
Tôi cũng chịu ơn một số học giả, những nhà nghiên cứu, những người đã
chia sẻ sự quan tâm của tôi về Hồ Chí Minh và lịch sử cách mạng Việt
Nam. Trong một số trường hợp, danh sách tên của họ khá dài, vì nhiều
người trong số này cung cấp cho tôi những tài liệu cốt lõi, hoặc truy cập
những nghiên cứu của chính họ trong những chủ đề liên quan. Dù sao, tôi
cũng muốn đưa tên của họ vào trong cuốn sách này. Ở Hoa Kỳ, Douglas
Pike và Steve Denny thuộc Lưu trữ Đông Dương, bây giờ làm việc tại
Texas Tech University, đã có những gợi ý bổ ích trong lần đi thăm đầu tiên
kho lưu trữ của họ đặt ở Berkeley. Ngoài ra còn có King C. Chen, Stanley
Karnow, Bill Turley, Gary Tarpinian và Mai Elliott. John McAuliff thuộc
chương trình Hòa giải Hoa Kỳ-Đông Dương, rất hảo tâm mời tôi tham dự
hội nghị cựu chiến binh Việt Minh và Cơ quan Tình báo Chiến lược Hoa
Koa Kỳ (OSS) tổ chức tại Hampton Bays, New York, năm 1998. Trong số
người tham dự hội nghị này có Frank White, Henry Prunier, Carlton Swift,
Mac Shinn, Frank Tan, George Wicks, Ray Grelecki và Charles Fenn, cũng
như một đoàn đại biểu cựu chiến binh Việt Minh và những học giả cũng
tham dự, đã chia sẻ những những kinh nghiệm thú vị, quý báu của chính họ
trong thời kỳ đó cho tôi. Trong một dịp trước đó, tôi may mắn được thảo
luận về Hồ Chí Minh với Archimedes (Al) Patti, mà ký ức của ông đã được
viết trong cuốn “Tại sao Việt Nam?” “Khúc dạo đầu của ó biển Hoa Kỳ”
(Prelude to America's Albatross) (Berkeley: Nhà xuất bản Đại học
California, 1980), là một nguồn thông tin quan trong không thể thay thế
được được về chủ đề này. Bob Bledsoe, chủ tịch Ban khoa học chính trị
thuộc Đại học Central Florida, rộng lòng cho phép tôi tìm tòi trong kho lưu
trữ của Patti tại Đại học của ông. Tôi cám ơn bà Magrgaret, quả phụ Al
Patti, đã cho phép tôi in những tấm hình lấy từ lưu trữ đó trong cuốn sách
này.
Ở Pháp, một số người đã giúp tôi theo nhiều cách khác nhau, bao gồm
Georges Boudarel, Daniel Hemery, Christiane Pasquel Rageau và Philippe
Devillers, cũng như Chris Goscha và Agathe Larcher. Stein Tonnesson sự
giúp đỡ nhiều trong việc chia sẻ những kết quả của chính ông nghiên cứu
https://thuviensach.vn
tại Trung tâm lưu trữ, Section Outre-Mer, tại Aix-en-Provence. Tôi cũng
xin được cám ơn giáo sư Bernard Dahm, Đại học Passau đã mời tôi tham
dự hội nghị về Hồ Chí Minh tại trường ông năm 1990. Lương Vô Ẩm và
Trần Kiểm tốt bụng cung cấp cho tôi những tài liệu chữ Trung là những tư
liệu để hiểu được mối quan hệ của Hồ Chí Minh với Trung Hoa. Những
học giả Nga, Ilya Gaiduk và Anatoly Sokolov dành thời gian hoặc gửi cho
tôi những tài liệu hữu ích về mối quan hệ Xô-Việt. Giáo sư Motoo Furuta,
Đại học Tổng hợp Tokyo gửi tôi một số tài liệu quan trọng mà ở Hoa Kỳ tôi
không thể tìm được. David Marr, Đại học Tổng hợp quốc gia Úc cung cấp
cho tôi một số tài liệu, bài báo và một cuốn băng ghi bài phát biểu nổi tiếng
của Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình đầu tháng 9-1945. Tôi cám ơn
Lí Ngọc Bình và Lưu Thượng Hoàng đã đóng góp và giúp đỡ rất nhiều khi
còn là sinh viên của tôi tại Penn State, đã dành thời gian cung cấp những tài
liệu hữu ích liên quan những hoạt động của Hồ Chí Minh ở miền nam
Trung Quốc.
Nhân đây, tôi xin cám ơn David Lott ở Hyperion, trong ban biên tập, đã
giúp đỡ trong việc xuất bản, Trent Duffy người phụ trách bản thảo, một
công việc khó khăn để chuẩn hóa tài liệu tham khảo, tới Lisa Stokes và Phil
Rose, phụ trách trình bày bìa, sắp xếp nội dung và tới Paul Pugliese,
Dorothy Baker cũng như Archie Ferguson đóng góp bản đồ, sắp xếp nội
dung và phần tổng thể. Mark Chait sẵn sàng giúp đỡ tôi không mệt mỏi
trong quá trình xuất bản. Tôi đặc biệt cám ơn biên tập viên, Will Schwalbe,
đã khích lệ, đưa dự án này đến kết quả. Ngay từ đầu ông đã tỏ rõ mối quan
tâm lớn lao là giúp tôi tạo ra một cuốn sách có chất lượng cao nhất. Sự kiên
nhẫn, lòng hiếu khách và những lời khuyên của ông có giá trị thật vô bờ.
Tôi cám ơn hai con gái tôi - Laura và Claire - đã không phàn nàn vì phải
mất nhiều thời giờ trong nhiều năm để nghe cha chúng rao giảng về Việt
Nam. Cuối cùng, tôi biết ơn vợ tôi vô cùng, Yvonne, không những là người
đầu tiên đọc bản thảo mà còn tỏ sự kiên nhẫn lắng nghe những lần tôi nói
về Hồ Chí Minh và coi ông như một thành viên trong gia đình.
https://thuviensach.vn
DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC
ĐƯỢC NHẮC ĐẾN TRONG CUỐN
SÁCH:
Annam Cộng sản Đảng (ACP): Thời gian đảng tồn tại rất ngắn, được
thành lập tại Đông Dương năm 1929 sau khi Hội Thanh niên cách mạng bị
giải thể. Sau đó được sát nhập vào Đảng cộng sản Việt Nam tháng 2/1930
Đội tuyên truyền giải phóng quân (APB): Một đơn vị quân đội cách
mạng dưới sự lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng, thành lập tháng
12-1944, chuẩn bị cuộc khởi nghĩa sau Thế chiến thứ II kết thúc. Tiền thân
của Việt Nam Giải Phóng Quân (VLA).
Cứu quốc quân: Đơn vị vũ trang được tổ chức hoạt động chống Pháp và
Nhật ở Bắc Việt 1944, sau đó được sát nhập vào Đội Tuyên truyền Giải
Phóng quân (APB) thành Việt Nam Giải Phóng Quân (VLA).
Quân đội Việt Nam Cộng hòa: Quân đội của chính quyền Việt Nam
Cộng hòa từ 1956-1975.
Quốc gia
Liên hiệp Việt Nam (ASV): Chính quyền của Bảo đại được
Hiệp định Elysée năm 1949 thừa nhận. Chính quyền tự trị dưới sự lãnh đạo
của Quốc trưởng Bảo Đại nhưng thiếu sự ủng hộ. ASV hợp tác với Pháp
trong cuộc chiến tranh Pháp - Việt Minh. Sau hiệp định Geneva 1954, ASV
bị chính quyền miền Nam Việt Nam Độc lập thay thế.
Tâm Tâm Xã: Tổ chức cách mạng cực đoan do một số phần tử di cư
sống ở nam Trung Quốc, thành lập năm 1924. Sau này Hồ Chí Minh
https://thuviensach.vn
chuyển thành Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.
Hội nghiên cứu chủ nghĩa Max: Hội thành lập trên giấy do Đảng cộng
sản Đông Dương lập ra khi tự giải tán và rút vào bí mật tháng 11 năm 1945.
Nhưng sự thật, Đảng cộng sản vẫn hoạt động bí mật cho đến khi Đảng Lao
động ra đời năm 1951.
Cao Đài: Một tổ chức tôn giáo hổ lốn phát sinh ở Nam bộ vào cuối Thế
chiến thứ Nhất. Cao Đài chống lại tất cả các chính quyền muốn kiểm soát
nó. Giáo phái này vẫn đang còn hoạt động, mặc dù bị chính quyền theo dõi
đặc biệt.
Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia (CPRP): Tổ chức cách mạng
này được thành lập dưới sự yểm trợ của cộng sản Việt Nam từ đầu những
năm 1950. Một trong ba đảng thừa kế đảng cộng sản Đông Dương bị giải
tán năm 1951. Các lực lượng vũ trang của CPRP được gọi là Khmer Đỏ.
Giữa những năm 60, Đảng cộng sản Khơ Me thay thế CPRP.
Trung ương Cục miền Nam (COSVN): Cơ quan đầu não của Cộng sản
hoạt động ở miền Nam trong thời kỳ Pháp-Việt Minh và sau này chiến
tranh Việt Nam. Thành lập năm 1951 và giải tán sau khi Sài Gòn sụp đổ
năm 1975.
Đảng cộng sản Trung Quốc (CCP): Tên đảng bộ của Đảng cộng sản
thành lập ở Thượng Hải, Trung Hoa năm 1921.
Quốc tế Cộng sản (CMT): Tổ chức cách mạng được thành lập tại nước
Nga Xô viết năm 1919, Moscow là cơ quan đầu não của tổ chức. Trực tiếp
lãnh đạo hoạt động của các đảng thành viên trên toàn thế giới. Giải tán năm
1943. Đảng cộng sản Đông Dương gia nhập tổ chức này năm 1935.
Đông Dương Cộng sản Đảng (CPI): Tổ chức cách mạng này chết yểu,
gồm những phần tử ly khai từ Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội năm
1929. Tháng Hai năm 1930 hợp nhất với Tân Việt Đảng thành Đảng cộng
sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập.
Đảng cộng sản Liên Xô (CPSU): Tên cũ Đảng Cách mạng, được thành
lập dưới sự chỉ đạo của Vladimir I. Lenin những năm 1920.
https://thuviensach.vn
Đảng Hiến Pháp: Đảng chính trị ôn hòa do một số phần tử cải lương
thành lập ở Nam bộ đầu những năm 1920. Đảng này chủ trương dành
quyền tự trị dưới sự bảo trợ của Pháp. Lãnh đạo là Bùi Quang Chiêu hay
lên tiếng chỉ trích Đảng cộng sản và bị cán bộ Việt Minh thủ tiêu trong thời
gian Cách mạng tháng Tám 1945.
Đảng Đại Việt: Một tổ chức Dân tộc chủ nghĩa,
thành lập trong thời kỳ
Thế chiến II, theo Nhật kêu gọi và kết nạp những người không cộng sản
chống chế độ thuộc địa của Pháp. Đảng này tồn tại ở Nam Việt Nam đến
năm 1975 khi Sài Gòn sụp đổ.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DRV): Chính quyền độc lập do Hồ Chí
Minh và Mặt trận Việt Minh thành lập ở Bắc Việt ngày 2/9/1945. Tháng
12-1946, quân đội Pháp đánh bật ra khỏi Hà-nội. Hiệp định Geneva năm
1954 thừa nhận chủ quyền của VNDCCH ở miền Bắc VN. Năm 1976 đổi
thành Cộng Hòa XHCN Việt Nam.
Đông kinh Nghĩa thục (Hanoi Free School): Trường học do một số nhà
trí thức yêu nước lập ra ở Hà nội để thúc đẩy cải cách trong thập niên đầu
của thế kỷ XX. Sau khi bị Pháp đóng cửa, những nhà sáng lập đã truyền đạt
ý tưởng vào trường Dục Thanh ở Phan thiết, nơi Hồ Chí Minh đã từng dạy
trong thời gian ngắn năm 1910.
Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Đồng minh Hội): Tổ chức Việt
Nam Dân Quốc dưới sự tài trợ của Quốc Dân Đảng Trung Hoa thành lập
tháng Tám năm 1942. Tổ chức này liên kết một số đảng theo đường lối dân
tộc chủ nghĩa và là con đẻ của tướng Quốc dân đảng Trương Phát Khuê.
Khuê định dùng liên minh này để chống Nhật ở Đông Dương. Mặc dù Hồ
Chí Minh đã tranh thủ lợi dụng tổ chức này cho mục đích của mình, sau
Thế chiến II, Hội này quay ra chống Đảng cộng sản Đông Dương kịch liệt.
Khi cuộc chiến với Pháp nổ ra tháng 12 năm 1946, Hội này coi như giải
tán.
Mặt trận Tổ quốc: Thành lập năm 1955 do chính phủ Việt Nam DCCH,
thay thế cho mặt trận Liên Việt và trước đó là Mặt trận Việt Minh, một tổ
chức ủng hộ đảng phái chính trị ở Việt Nam.
https://thuviensach.vn
Lực lượng quân viễn chinh Pháp: Lực lượng quân đội Pháp đóng ở
Đông Dương trong thời kỳ chiến tranh Pháp-Việt Minh.
Hòa Hảo: Một tổ chức tôn giáo hổ lốn do nhà sư Huỳnh Phú Sổ thành
lập năm 1939. Cực kỳ chống Pháp và chống Cộng từ sau Thế chiến II. Hiện
vẫn đang hoạt động dưới sự theo dõi sát sao của chính quyển Cộng Hoà
XHCNVN.
Thanh niên Cao vọng: một tổ chức dân tộc do Nguyễn An Ninh thành
lập ở Sài gòn giữa những năm 1920. Chết yểu.
Quốc Tử Giám: Trường đào tạo quan lại do triều đình tổ chức, được xây
dựng từ thế kỷ thứ XI ở Hà-nội. Từ thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn
chuyển về kinh đô Huế. Thân phụ Hồ Chí Minh được làm việc thời gian
ngắn ở đây trong vai trợ giáo.
Đảng cộng sản Đông Dương (ICP): Do Hồ Chí Minh và các đồng chí
thành lập tháng 10-1930. Tên cũ là Đảng cộng sản Việt Nam thành lập
tháng 2-1930. Tự giải tán năm 1945. Tái thành lập năm 1951 dưới tên Đảng
Lao động Việt Nam.
Liên bang Đông Dương: Kế hoạch của Đảng cộng sản Đông Dương
giữa thập niên 1930 để thành lập nhà nước Liên bang Cách mạng gồm Việt
Nam - Lào - Campuchia. Sau Thế chiến II, năm 1951, kế hoạch này được
gọi là “mối quan hệ đặc biệt” giữa ba nước.
Liên hiệp Đông Dương: tổ chức hành chính do Pháp lập ra cuối thế kỷ
XIX để bảo đảm luật lệ của Pháp ở khu vực bao gồm Nam Kỳ - An nam
(Trung Kỳ) - Bắc Kỳ -Lào - Campuchia.
Ủy ban Kiểm soát quốc tế: Một tổ chức giám sát thực thi hiệp định đình
chiến Geneva tháng 7-1954, gồm có Canada, Ấn Độ, Ba Lan.
Đảng cộng sản Khmer: Tổ chức cộng sản thành lập giữa thập niên 1960
do Pol Pot cực đoan đứng đầu thay thế Đảng Nhân dân Cách mạng
Campuchia thành lập năm 1951.
Khmer Đỏ: Tên thường dùng để chỉ lực lượng cách mạng Campuchia.
Đôi khi người ta cũng chỉ Đảng cộng sản Khmer.
https://thuviensach.vn
Đảng Nhân dân Cách mạng Lào: Đảng do Đảng cộng sản Việt Nam
bảo trợ, thành lập đầu năm 1950, còn hay được gọi là Pathet Lào.
Mặt trận Liên Việt: Do Đảng cộng sản Đông dưong thành lập năm
1946 để tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng với đảng, sát nhập với Việt
Minh năm 1951, đến năm 1955, Mặt trận Tổ quốc thay thể.
Quốc học: Trường trung học uy tín ở Huế, thành lập năm 1896, đào tạo
các quan lại thế hệ mới, dạy tiếng Pháp và các môn văn minh phương Tây.
Hồ Chí Minh học trường này từ 1907 đến 1808.
Vệ quốc quân: Tên gọi tắt của Giải phóng quân (VLA) sau Cách mạng
tháng Tám, được chọn để tránh rắc rối với lực lượng Trung Hoa đang
chiếm đóng.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (NLF): Liên minh rộng rãi
nhiều nhóm chống đối tại Nam Việt, thành lập năm 1960 dưới sự bảo trợ
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giải tán năm 1976 sau khi thống
nhất hai miền.
Ủy ban Giải phóng Dân tộc: Cơ quan đại diện cho Việt Minh, thành lập
ở Tân Trào để chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám. Hồ Chí Minh làm chủ
tịch.
Cứu quốc Hội: Một tổ chức quần chúng rộng lớn do Đảng cộng sản
Đông Dương thành lập chống Pháp trong Thế chiến thứ II. Sau năm 1954
thường được gọi là Hội Cứu quốc.
Tân Việt Cách mạng Đảng: Đảng cách mạng chống Pháp, thành lập
cuối những năm 1920, sau đó sát nhập vào với Đông Dương Cộng sản
Đảng (ICP).
Pathet Lào: Tên gọi lực lượng quân đội cách mạng Lào. Trong chiến
tranh Việt Nam, lực lượng quân đội này liên kết với Bắc Việt chống Mỹ.
Quân đội Nhân dân Việt Nam: Quân đội thường trực, thành lập sau
1954, kế thừa Giải phóng quân Việt Nam hoạt động trong chiến tranh
chống Pháp.
https://thuviensach.vn
Giải phóng Quân Nhân dân: Còn gọi là Việt Cộng. Thành lập năm
1961, tên cũ của lực lượng trong phong trào cách mạng trong thời kỳ chiến
tranh Việt Nam.
Việt Nam Cộng hoà (RVN): Tên cũ của chính phủ không cộng sản,
thành lập ở Nam Việt sau Hội nghị Geneva. Năm 1956 đổi tên Việt Nam
Tự do. Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ năm 1975, bị đồng hoá trở thành Cộng
hoà XHCNVN.
Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội: Một tổ chức cách
mạng rất sớm do Hồ Chí Minh sáng lập ở Nam Trung Hoa năm 1925. Kết
hợp chủ thuyết cộng sản và quốc gia, sau đó Đảng cộng sản thay thế 1930.
Cộng hoà XHCN Việt Nam: Tên nhà nước Việt Nam thống nhất từ năm
1976 sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc.
Khối Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO): Liên minh do Mỹ thành lập
1954 để ngăn chặn sự bành trướng chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á.
Hiện nay đang tan rã.
Thanh niên Tiền phong: Một phong trào thanh niên rộng khắp Nam Bộ
được Nhật ủng hộ, do Phạm Ngọc Thạch thành lập trong thời gian Thế
chiến II. Đảng cộng sản Đông Dương đã dùng lực lượng này để hỗ trợ
Cách mạng tháng Tám tại Sài gòn.
Việt Cộng: Tên miệt thị để chỉ quân giái phóng miền Nam Việt Nam
trong chiến tranh Việt Nam. Tên cũ của Lực lượng Vũ trang Giải phóng
miền Nam (NLF).
Mặt trận Việt Minh: Do Đảng cộng sản Đông Dương (ICP) đứng ra
thành lập tháng 5-1941. Lực lượng chính trị chủ yếu chống Pháp trong Thế
chiến thứ II và sau 1945 dành độc lập.
Đảng cộng sản Việt Nam: do Hồ Chí Minh thành lập tháng 2/1930. Sau
đó đổi thành Đảng cộng sản Đông Dương (ICP). Đến tháng 12-1976 mới
lấy lại tên này.
Đảng Dân chủ Việt Nam: Một đảng chính trị non yếu không cộng sản,
thành lập dưới sự bảo trợ của Đảng cộng sản Đông Dương, tập hợp những
https://thuviensach.vn
phần tử yêu nước không cộng sản trong thành phần Việt Minh năm 1944.
Đảng đại diện cho những nhà khoa học trí thức yêu nước. Tồn tại đến sau
năm 1976.
Việt Nam Giải phóng quân: Tên cũ của lực lượng kháng chiến chống
Pháp của Đảng cộng sản Đông Dương trong thời kỳ kháng chiến chống
Pháp sau Thế chiến II. Thành lập đầu tiên tháng 12 -1944, đổi tên Quân đội
Nhân dân Việt Nam sau Hội nghi Geneva 1954.
Việt Nam Giải phóng Đồng Minh: Một tổ chức mặt trận do Hồ Chí
Minh sáng lập ở miền Nam Trung Quốc năm 1941, nhằm tập hợp các phần
tử chống Pháp dưới sự lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng, nhưng
sau đó có nhiều phần tử chống cộng tham gia trong một số khu vực. Sau đó
Đồng Minh Hội thay thế.
Quân đội Quốc gia Việt Nam: Tên chính thức của các lực lượng vũ
trang của Quốc gia Liên hiệp do Bảo Đại làm Quốc trưởng. Sau hội nghị
Geneva, năm 1956 được Quân đội Việt Nam Cộng hòa thay thế.
Việt Nam Quốc dân đảng: Đảng dân tộc không cộng sản, thành lập ở
Bắc Kỳ năm 1927. Trong nhiều thập niên là đối trọng chính trị chủ yếu của
Đông Dương Cộng sản Đảng. Nay đã bị giải tán.
Việt Nam Quang phục Hội: Đảng chống thực dân do Phan Bội Châu
thành lập năm 1912. Mục tiêu thay thế chế độ quân chủ bằng nền cộng hòa.
Sau mấy cuộc nổi dậy thất bại, đảng bị mất uy tín và tan rã.
Đảng Lao động Việt Nam: Tên hình thức của Đảng cộng sản Việt Nam
năm 1951. Sau đó đổi tên Đảng cộng sản Việt Nam.
https://thuviensach.vn
MỞ ĐẦU
Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, những xe tăng Bắc Việt Nam do Liên
Xô sản xuất ầm ầm lao qua ngoại ô bắc Sài Gòn và tiến về dinh tổng thống
nằm giữa thành phố này. Trên xe tăng, binh sĩ mặc binh phục dã chiến và
mũ cối đặc trưng gắn một ngôi sao vàng, vẫy cờ Chính phủ Cách mạng lâm
thời.
Sáng 30 tháng 4 năm 1975, những chiếc xe tăng Bắc Việt do Liên Xô sản
xuất ầm ầm tiến qua các vùng ngoại ô bắc Sài Gòn hướng về phủ tổng
thống, trung tâm thành phố. Ngồi trên những chiếc xe tăng là những người
lính mặc quân phục dã chiến, đội mũ cối gắn sao vàng, vẫy cờ Chính phủ
Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Ngay sau buổi trưa,
một tốp xe tăng chậm chạp lăn bánh dọc theo đại lộ Thống Nhất ngang qua
Tòa đại sứ Hoa Kỳ, nơi mà cách đó hai tiếng những người lính thuỷ đánh
bộ Mỹ cuối cùng được máy bay trực thăng đưa đi từ trên nóc toà nhà. Chiếc
xe đi đầu lưỡng lự giây lát ngoài cánh cổng sắt dinh tổng thống rồi đâm
thẳng húc đổ cánh cổng, xe dừng lại bên thảm cỏ ngay trước thềm vào
dinh. Người chỉ huy xe tăng trẻ tuổi bước vào toà nhà, gặp Tổng thống
Dương Văn Minh - “Minh Lớn” chớp nhoáng. Sau đó anh lên nóc dinh,
tiến tới cột cờ và thay lá cờ Việt Nam Cộng Hoà bằng lá cờ xanh đỏ của
Chính phủ Cách mạng lâm thời.
Cuộc chiến tranh kéo dài ở Việt Nam đã kết thúc. Sau gần một thập niên
chiến đấu gian khổ và đẫm máu đã làm hơn 50.000 lính Mỹ tử trận, những
người lính Mỹ cuối cùng đã lên đường về nước sau khi Hiệp định Paris
được ký kết vào 1-1973. Tuy nhiên, Hiệp định này đã nhanh chóng vi
https://thuviensach.vn
phạm, vài tháng sau, các lực lượng vũ trang của chế độ Sài Gòn đã liên tiếp
đụng độ với Việt Cộng và quân đội Bắc Việt (Quân đội Nhân dân Việt
Nam) trong đó có hơn 100.000 người được Hiệp định ngầm chấp thuận ở
lại miền Nam. Tháng 12 năm 1974, được khích lệ bởi thắng lợi trên chiến
trường và nhận định Hoa Kỳ sẽ không can thiệp lại vào cuộc chiến, các nhà
lãnh đạo đảng (Đảng cộng sản Việt Nam lúc đó mang tên Đảng Lao động
Việt Nam) thông qua kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân
Việt Nam tiến hành chiến dịch trong hai năm nhằm đánh đổ chính quyền
Sài Gòn vào mùa xuân năm 1976. Tuy nhiên, những trận đánh thăm dò ban
đầu dọc biên giới Campuchia và Tây Nguyên đầu năm 1975 đã cho thấy
Sài Gòn chống trả yếu ớt. Do vậy, cuối tháng 3-1975, Hà Nội đã ra lệnh
cho các tư lệnh chỉ huy ở miền Nam giành thắng lợi cuối cùng trước khi
mùa khô kết thúc vào cuối tháng 4-1975. Hệ thống phòng thủ của Sài Gòn
phía bắc Nam Bộ đã nhanh chóng sụp đổ và tới giữa tháng Tư những đoàn
quân Bắc Việt đã nam tiến về Sài Gòn. Tổng thống Nam Việt Nguyễn Văn
Thiệu từ chức ngày 21 tháng 4 năm 1975. Người kế nhiệm là một chính trị
gia Sài Gòn lớn tuổi Trần Văn Hương cũng chỉ nắm chính quyền trong bảy
ngày và lại bị Minh “Lớn” thay thế với mong muốn tuyệt vọng, viên tướng
miền Nam được nhiều người biết đến có thể sẽ khiến cho Bắc Việt chấp
nhận thoả hiệp hòa bình. Nhưng những cử chỉ thăm dò hòa bình của tướng
Minh đã bị Hà Nội lờ đi.
Thắng lợi của cộng sản ở Sài Gòn là kết quả của lòng quyết tâm và sự
lãnh đạo tài tình của nhà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn và
những cộng sự kỳ cựu của ông ở Hà Nội. Một đóng góp không kém phần
quan trọng là những đoàn quân Bắc Việt và du kích Việt Cộng - gọi tắt là
bộ đội (bộ đội tiếng Việt có nghĩa như GI của Hoa Kỳ), những người đã
chiến đấu và hy sinh cả một thế hệ cho sự nghiệp cách mạng trong những
khu rừng rậm và đầm lầy ở miền Nam Việt Nam. Nhưng quan trọng hơn cả
là tầm nhìn, ý chí và khả năng lãnh đạo của một con người. Hồ Chí Minh,
người sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam, nhà lãnh đạo phong trào cách
mạng và Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tới khi ông mất vào
https://thuviensach.vn
năm 1969, sáu năm trước khi chiến tranh kết thúc. Để tỏ lòng kính trọng
đối với những cống hiến của ông, sau khi Sài Gòn sụp đổ, các đồng chí của
ông đã đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh.
Là đặc vụ của Quốc tế Cộng sản tại Moscow, thành viên phong trào cộng
sản quốc tế, kiến trúc sư cho sự thắng lợi của Việt Nam, Hồ Chí Minh, rõ
ràng là một trong những nhân vật chính trị có ảnh hưởng lớn nhất của thế
kỷ XX. Hồ Chí Minh còn là một trong những nhân vật huyền bí nhất, một
con người với những động cơ và hành động đã gây nhiều tranh cãi. Trong
ba thập niên, đã có những tranh luận về một câu hỏi nhìn bề ngoài có vẻ
đơn giản về những động cơ xuyên suốt cuộc đời Hồ Chí Minh đối với sự
nghiệp cách mạng. Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc hay theo
chủ nghĩa cộng sản? Hình ảnh giản dị, vô tư của Hồ Chí Minh trước công
chúng, chân thực hay giả dối? Với những người ủng hộ, Hồ Chí Minh là
biểu tượng của chủ nghĩa nhân đạo cách mạng, là bậc cha anh đã cống hiến
tất cả cho hạnh phúc của nhân dân và công cuộc giải phóng tất cả các dân
tộc bị áp bức trên thế giới. Đối với những người đã được gặp ông, cả người
Việt Nam cũng như người nước ngoài, ông là một “người hiền lành, tử tế”.
Cho dù là một nhà lãnh đạo lớn trên thế giới, thực chất ông là nhà ái quốc
vị tha gần gũi với nhân dân và nguyện suốt đời mang lại cuộc sống ấm no
cho nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, một số nhà phê bình lại chỉ trích những
hành động cách mạng thái quá mà người ta vẫn cho rằng là của ông và ông
có tính cách hay thay đổi theo hoàn cảnh, một con sói đội lốt cừu.
Nghi ngờ về tính cách và những động cơ bên trong của Hồ Chí Minh là
trọng tâm của cuộc tranh luận ở Hoa Kỳ về mặt đạo lý của cuộc chiến Việt
Nam. Đối với những người chỉ trích chính sách của Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh
là người yêu nước giản dị đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho
nhân dân Việt Nam, người đấu tranh mạnh mẽ chống lại chủ nghĩa đế quốc
toàn cầu trong Thế Giới Thứ Ba. Những người ủng hộ nỗ lực chiến tranh
của Hoa Kỳ nghi ngờ động cơ yêu nước của Hồ Chí Minh gián tiếp chỉ ra
rằng, ông từ lâu là đặc vụ của Iosiff Stalin, đã có năm thập niên phục vụ
cho cách mạng thế giới. Họ cho rằng, hình ảnh chủ nghĩa dân tộc mà Hồ
https://thuviensach.vn
Chí Minh cần mẫn gây dựng chỉ là mưu đồ để giành sự ủng hộ trong nước
và quốc tế cho sự nghiệp cách mạng.
Đối với người Mỹ, cuộc tranh luận về Hồ Chí Minh tạo ra những cảm
xúc mạnh mẽ về một cuộc chiến tranh đã đi vào quá khứ. Đối với người
Việt Nam cuộc tranh luận gợi nên những câu hỏi quan trọng hơn nhiều, bởi
điều này xác định những vấn đề trọng tâm trong cuộc cách mạng Việt Nam
- mối quan hệ giữa quyền tự do con người và bình đẳng về kinh tế ở nước
Việt Nam mới trỗi dậy sau chiến tranh-. Kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết
thúc, các cộng sự của Hồ Chí Minh, một số vẫn đang nắm giữ quyền hành
tại Hà Nội, đã không ngừng đúc rút từ những ký ức của Hồ Chí Minh để
thần thánh hoá mô hình phát triển đất nước cộng sản. Những người này cho
rằng, mục tiêu của Hồ Chí Minh trong suốt sự nghiệp của mình là xoá bỏ
bóc lột của chủ nghĩa tư bản toàn cầu và tạo ra một thế giới cách mạng mới
với đặc điểm chính là chủ nghĩa xã hội không tưởng của Karl Marx. Tuy
nhiên, một số ý kiến khác lại không đồng tình, cho rằng mục tiêu chính
trong sự nghiệp của ông là quyết tâm làm mềm mỏng nguyên tắc cứng nhắc
bất di bất dịch trong cuộc đấu tranh giai cấp theo luận thuyết Marxist thông
qua việc kết hợp nguyên tắc này với Khổng Tử và ba nhân tố cách mạng
Pháp là Tự do, Bình đẳng và Bác ái. Để biện hộ, họ trích dẫn một trong
những khẩu hiệu của ông thường thấy ở Việt Nam ngày nay “Không có gì
quý hơn độc lập tự do”[1*].
Vì thế cuộc tranh luận về Hồ Chí Minh là cốt lõi của một số vấn đề quan
trọng tạo nên dấu ấn thế kỷ XX, kỷ nguyên của chủ nghĩa dân tộc, chủ
nghĩa cách mạng, chủ nghĩa quân bình và phấn đấu vì quyền tự do của con
người. Sự phức tạp trong tính cách của Hồ Chí Minh phản ánh phức tạp của
thời đại. Ông vẫn là một thế lực đầy uy quyền ở Việt Nam sau chiến tranh
được hàng triệu người kính trọng nhưng rõ ràng cũng bị nhiều người căm
ghét. Dù tốt hay xấu, Hồ Chí Minh đã thể hiện trong ông hai động lực quan
trọng của xã hội hiện đại - khao khát độc lập dân tộc và phấn đấu vì công
bằng kinh tế và xã hội. Mặc dù chúng ta chưa có đủ tất cả mọi bằng chứng
https://thuviensach.vn
nhưng đã đến lúc phải phân tích đánh giá nhân vật có ảnh hưởng trong thế
kỷ XX dưới góc độ lịch sử.
Những khó khăn mà bất kỳ một nhà v...
https://thuviensach.vn
HỒ CHÍ MINH - CHÂN DUNG MỘT CUỘC ĐỜI
Nguyên bản “HO CHI MINH, A LIFE”
Tác giả: WILLIAM J. DUIKER
Người dịch: NGUYỄN HỌC - LÂM HOÀNG MẠNH
Được sự chấp thuận của tác giả William J. Duiker
Ebook: Cuibap
Nguồn text: kbchaingoai.wordpress.com
https://thuviensach.vn
Kính tặng nhân dân Việt Nam
WILLIAM J. DUIKER
https://thuviensach.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Tôi bị thu hút bởi Hồ Chí Minh từ giữa những nǎm 1960 khi còn là một
cán bộ ngoại giao trẻ tuổi làm việc tại toà đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Tôi lấy
làm khó hiểu khi thấy những du kích Việt cộng chiến đấu trong rừng tỏ ra
có kỷ luật và năng động hơn đội quân chính phủ Nam Việt, đồng minh của
chúng tôi. Tìm hiểu vấn đề, tôi được giải thích, đó là do vai trò của người
sáng lập và nhà chiến lược cựu trào bậc thầy cách mạng Việt Nam - Hồ Chí
Minh. Sau khi thôi phục vụ trong chính quyền Hoa Kỳ theo đuổi sự nghiệp
khoa học, tôi có ý định viết một cuốn tiểu sử về con người kỳ lạ này.
Nhưng ngay lập tức tôi nhận ra, trong bối cảnh lịch sử thời kỳ đó, chưa thể
có đầy đủ điều kiện để tiếp cận các nguồn thông tin. Vì thế tôi đành bỏ ý
định, cho mãi đến những năm gần đây, thế giới trở nên cởi mở hơn, các
nguồn tin tràn đầy vì thế đã thúc đẩy tôi bắt tay vào công việc khó khăn
này.
Trong quá trình hoàn thành cuốn sách, tôi đã phải mất hơn hai thập niên
trăn trở, nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của bè bạn cùng các quỹ của các
cơ quan và hội đoàn. Quỹ nghiên cứu của trường College of Liberal Arts
cũng như của Institute for the Art & Humanistic Studies thuộc trường
Pennsylvania State University đã tài trợ kinh phí những lần tôi sang Pháp
và Việt Nam để thực hiện đề tài nghiên cứu. Thông qua trợ lý Mark Side
của Ford Foundation, tôi hân hạnh được tháp tùng Marilyn Young và A.
Tom Grunfeld trong chuyến đến Hà nội năm 1993 để tìm hiểu mối quan hệ
giữa Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ. Nhân đây tôi cũng xin cám ơn Ủy ban
Nghiên cứu Khoa học Xã hội, Chương trình trao đổi Khoa học Đông
https://thuviensach.vn
Dương của Ủy ban và Viện Mác-Lênin đã cấp học bổng tài khoá năm 1990
trong thời gian làm đề tài nghiên cứu. Khi tôi ở đó, Viện Sử Học, Viện
Marx-Lenin đã tạo mọi điều kiện cho tôi được trao đổi, thảo luận các chủ
đề khác nhau về Hồ Chí Minh và lịch sử cách mạng Việt Nam. Học viện
Quan hệ Quốc tế đã tài trợ chuyến đi trước đó - 1985 - kể cả chuyến đi thú
vị thăm làng Kim Liên, quê hương của Hồ Chí Minh. Trong số những cá
nhân trợ giúp trong thời gian tôi nghiên cứu ở Hà nội, tôi chân thành cảm
ơn Nguyễn Huy Hoan - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Nguyễn Thanh - Bảo tàng
Cách mạng và Trần Thành - Viện Mác-Lênin, tất cả đồng ý trả lời những
cuộc phỏng vấn chiếm nhiều thời gian. Tại Đại học Tổng hợp Hà Nội,
những nhà sử học Phùng Hữu Phú, Lê Mậu Hãn, Phạm Xanh và Phạm
Công Tùng vui lòng dành cho tôi thời gian, cung cấp những tư liệu về đời
sống và tư tưởng của Hồ Chí Minh. Cố Viện trưởng Bảo tàng Hồ Chí Minh
Hà Huy Giáp và Đặng Xuân Kỳ, khi đó là Viện trưởng Viện Khoa học Xã
hội, vui lòng trả lời những câu hỏi của tôi đối với những hồi ức cá nhân của
họ về chủ tịch Hồ Chí Minh. Đỗ Quang Hưng, Ngô Phượng Bá, Văn Tạo,
Trần Hữu Định tại Viện Sử học và Lưu Doãn Huỳnh thuộc Viện Quan hệ
Quốc tế đã không quản ngại thời gian giúp đỡ tôi khai thác những vấn đề
then chốt trong đề tài nghiên cứu.
Tôi cũng đặc biệt cám ơn ông Vũ Huy Phúc, đã kiên nhẫn và rất hiếu
khách, ông vừa tháp tùng vừa là cộng sự trong chuyến thăm Việt Nam năm
1990. Mới đây, ông Hoàng Công Thuỷ thuộc Hội hữu nghị Việt-Mỹ đã
giúp tôi tiếp xúc nhiều người và nhiều nguồn khác nhau khi tôi đi theo
đường mòn Hồ Chí Minh. Dương Trung Quốc - chủ bút tạp chí Xưa Nay,
cung cấp cho tôi một số tạp chí rất hữu ích. Nguyễn Quốc Uy thuộc Việt
Nam Thông tấn xã đã vui lòng cho tôi được in lại trong cuốn sách này một
số bức ảnh thuộc bản quyền Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tôi đã đi thăm một số thư viện và các kho lưu trữ khắp thế giới để tìm
kiếm những thông tin về những chuyến đi của Hồ Chí Minh. Ở Hoa Kỳ, tôi
cám ơn nhân viên Ban Đông Phương thuộc thư viện Quốc hội và Allan
Riedy, giám đốc của Echols Collection tại Thư viện Kroch, Đại học
https://thuviensach.vn
Cornell. Tại Lưu trữ quốc gia Mỹ ở College Park, Maryland, John Taylor
và Larry McDonald có những giúp đỡ giá trị trong việc tìm kiếm văn bản
lưu trữ của O.S.S (Office of Straticgic Service - Cơ quan Tình báo Chiến
lược Mỹ) và các văn bản của Bộ Ngoại giao liên quan tới quan hệ Việt-Mỹ
trong và sau Thế chiến II.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Thư viện Quốc gia, Cục Lưu
trữ Quốc gia Paris, đặc biệt Trung tâm Lưu trữ của Section Outre-Mer của
tỉnh Aix-en của Pháp quốc. Trong chuyến thăm viếng Moscow năm 1990,
Gennadi Maslov, Yevgeny Kobelev và Oxana Novakova đã có những buổi
trao đổi rất hữu ích khi thảo luận những vấn đề về mối quan hệ của Hồ Chí
Minh trong những năm sống ở Liên xô, đồng thời Sophia Quinn-Judge và
Steve Morris đã cung cấp cho tôi nhiều tài liệu quý giá mà họ đã thu thập
được trong kho lưu trử của Đệ Tam Quốc tế. Lê Hiển Hoành của Bảo tàng
Cách mạng tỉnh Quảng Châu đã cung cấp những kết quả nghiên cứu của
chính ông về những năm tháng HCM sống trong thành phố và đưa tôi đi
thăm quan một cơ sở đào tạo thú vị mà trước kia ông đã từng tham gia
giảng dạy bẩy mươi năm về trước.
Tôi cũng cám ơn Tào Binh Vị và Diệp Hân tại Viện Nghiên cứu Quốc tế
Bắc Kinh qua cuộc phỏng vấn tốn nhiều thời gian năm 1987 về những mối
quan hệ Hoa-Việt. Bob O'Hara đã giúp tôi thu thập những tài liệu liên quan
từ Cục lưu trữ Quốc gia ở London. Trong việc nghiên cứu, tôi rất vui vì có
nhiều cách khác nhau để tiếp cận mà tôi là người đại diện. Tôi cũng cám ơn
giáo sư Laura Tabili, Đại học Arizona, đã cung cấp những chỉ dẫn trong
việc tìm kiếm những nguồn thông tin khác trong những năm Hồ Chí Minh
sống ẩn dật ở Anh, cũng như nhân viên chi nhánh Hong Kong thuộc Cục
Lưu trữ Quốc gia Anh tạo điều kiện cho tôi sử dụng những tài liệu lưu trữ
liên quan tới thời kỳ Hồ Chí Minh bị tù ở đó vào đầu thập niên 1930. Đại
sứ T.N. Kaul cũng giúp ích cho tôi trong việc trao đổi những kỷ niệm của
ông về cuộc gặp gỡ giữa thủ tướng Jawaharlal Nehru và Chu Ân Lai mùa
hè năm 1954.
https://thuviensach.vn
Tôi cũng chịu ơn một số học giả, những nhà nghiên cứu, những người đã
chia sẻ sự quan tâm của tôi về Hồ Chí Minh và lịch sử cách mạng Việt
Nam. Trong một số trường hợp, danh sách tên của họ khá dài, vì nhiều
người trong số này cung cấp cho tôi những tài liệu cốt lõi, hoặc truy cập
những nghiên cứu của chính họ trong những chủ đề liên quan. Dù sao, tôi
cũng muốn đưa tên của họ vào trong cuốn sách này. Ở Hoa Kỳ, Douglas
Pike và Steve Denny thuộc Lưu trữ Đông Dương, bây giờ làm việc tại
Texas Tech University, đã có những gợi ý bổ ích trong lần đi thăm đầu tiên
kho lưu trữ của họ đặt ở Berkeley. Ngoài ra còn có King C. Chen, Stanley
Karnow, Bill Turley, Gary Tarpinian và Mai Elliott. John McAuliff thuộc
chương trình Hòa giải Hoa Kỳ-Đông Dương, rất hảo tâm mời tôi tham dự
hội nghị cựu chiến binh Việt Minh và Cơ quan Tình báo Chiến lược Hoa
Koa Kỳ (OSS) tổ chức tại Hampton Bays, New York, năm 1998. Trong số
người tham dự hội nghị này có Frank White, Henry Prunier, Carlton Swift,
Mac Shinn, Frank Tan, George Wicks, Ray Grelecki và Charles Fenn, cũng
như một đoàn đại biểu cựu chiến binh Việt Minh và những học giả cũng
tham dự, đã chia sẻ những những kinh nghiệm thú vị, quý báu của chính họ
trong thời kỳ đó cho tôi. Trong một dịp trước đó, tôi may mắn được thảo
luận về Hồ Chí Minh với Archimedes (Al) Patti, mà ký ức của ông đã được
viết trong cuốn “Tại sao Việt Nam?” “Khúc dạo đầu của ó biển Hoa Kỳ”
(Prelude to America's Albatross) (Berkeley: Nhà xuất bản Đại học
California, 1980), là một nguồn thông tin quan trong không thể thay thế
được được về chủ đề này. Bob Bledsoe, chủ tịch Ban khoa học chính trị
thuộc Đại học Central Florida, rộng lòng cho phép tôi tìm tòi trong kho lưu
trữ của Patti tại Đại học của ông. Tôi cám ơn bà Magrgaret, quả phụ Al
Patti, đã cho phép tôi in những tấm hình lấy từ lưu trữ đó trong cuốn sách
này.
Ở Pháp, một số người đã giúp tôi theo nhiều cách khác nhau, bao gồm
Georges Boudarel, Daniel Hemery, Christiane Pasquel Rageau và Philippe
Devillers, cũng như Chris Goscha và Agathe Larcher. Stein Tonnesson sự
giúp đỡ nhiều trong việc chia sẻ những kết quả của chính ông nghiên cứu
https://thuviensach.vn
tại Trung tâm lưu trữ, Section Outre-Mer, tại Aix-en-Provence. Tôi cũng
xin được cám ơn giáo sư Bernard Dahm, Đại học Passau đã mời tôi tham
dự hội nghị về Hồ Chí Minh tại trường ông năm 1990. Lương Vô Ẩm và
Trần Kiểm tốt bụng cung cấp cho tôi những tài liệu chữ Trung là những tư
liệu để hiểu được mối quan hệ của Hồ Chí Minh với Trung Hoa. Những
học giả Nga, Ilya Gaiduk và Anatoly Sokolov dành thời gian hoặc gửi cho
tôi những tài liệu hữu ích về mối quan hệ Xô-Việt. Giáo sư Motoo Furuta,
Đại học Tổng hợp Tokyo gửi tôi một số tài liệu quan trọng mà ở Hoa Kỳ tôi
không thể tìm được. David Marr, Đại học Tổng hợp quốc gia Úc cung cấp
cho tôi một số tài liệu, bài báo và một cuốn băng ghi bài phát biểu nổi tiếng
của Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình đầu tháng 9-1945. Tôi cám ơn
Lí Ngọc Bình và Lưu Thượng Hoàng đã đóng góp và giúp đỡ rất nhiều khi
còn là sinh viên của tôi tại Penn State, đã dành thời gian cung cấp những tài
liệu hữu ích liên quan những hoạt động của Hồ Chí Minh ở miền nam
Trung Quốc.
Nhân đây, tôi xin cám ơn David Lott ở Hyperion, trong ban biên tập, đã
giúp đỡ trong việc xuất bản, Trent Duffy người phụ trách bản thảo, một
công việc khó khăn để chuẩn hóa tài liệu tham khảo, tới Lisa Stokes và Phil
Rose, phụ trách trình bày bìa, sắp xếp nội dung và tới Paul Pugliese,
Dorothy Baker cũng như Archie Ferguson đóng góp bản đồ, sắp xếp nội
dung và phần tổng thể. Mark Chait sẵn sàng giúp đỡ tôi không mệt mỏi
trong quá trình xuất bản. Tôi đặc biệt cám ơn biên tập viên, Will Schwalbe,
đã khích lệ, đưa dự án này đến kết quả. Ngay từ đầu ông đã tỏ rõ mối quan
tâm lớn lao là giúp tôi tạo ra một cuốn sách có chất lượng cao nhất. Sự kiên
nhẫn, lòng hiếu khách và những lời khuyên của ông có giá trị thật vô bờ.
Tôi cám ơn hai con gái tôi - Laura và Claire - đã không phàn nàn vì phải
mất nhiều thời giờ trong nhiều năm để nghe cha chúng rao giảng về Việt
Nam. Cuối cùng, tôi biết ơn vợ tôi vô cùng, Yvonne, không những là người
đầu tiên đọc bản thảo mà còn tỏ sự kiên nhẫn lắng nghe những lần tôi nói
về Hồ Chí Minh và coi ông như một thành viên trong gia đình.
https://thuviensach.vn
DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC
ĐƯỢC NHẮC ĐẾN TRONG CUỐN
SÁCH:
Annam Cộng sản Đảng (ACP): Thời gian đảng tồn tại rất ngắn, được
thành lập tại Đông Dương năm 1929 sau khi Hội Thanh niên cách mạng bị
giải thể. Sau đó được sát nhập vào Đảng cộng sản Việt Nam tháng 2/1930
Đội tuyên truyền giải phóng quân (APB): Một đơn vị quân đội cách
mạng dưới sự lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng, thành lập tháng
12-1944, chuẩn bị cuộc khởi nghĩa sau Thế chiến thứ II kết thúc. Tiền thân
của Việt Nam Giải Phóng Quân (VLA).
Cứu quốc quân: Đơn vị vũ trang được tổ chức hoạt động chống Pháp và
Nhật ở Bắc Việt 1944, sau đó được sát nhập vào Đội Tuyên truyền Giải
Phóng quân (APB) thành Việt Nam Giải Phóng Quân (VLA).
Quân đội Việt Nam Cộng hòa: Quân đội của chính quyền Việt Nam
Cộng hòa từ 1956-1975.
Quốc gia
Liên hiệp Việt Nam (ASV): Chính quyền của Bảo đại được
Hiệp định Elysée năm 1949 thừa nhận. Chính quyền tự trị dưới sự lãnh đạo
của Quốc trưởng Bảo Đại nhưng thiếu sự ủng hộ. ASV hợp tác với Pháp
trong cuộc chiến tranh Pháp - Việt Minh. Sau hiệp định Geneva 1954, ASV
bị chính quyền miền Nam Việt Nam Độc lập thay thế.
Tâm Tâm Xã: Tổ chức cách mạng cực đoan do một số phần tử di cư
sống ở nam Trung Quốc, thành lập năm 1924. Sau này Hồ Chí Minh
https://thuviensach.vn
chuyển thành Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.
Hội nghiên cứu chủ nghĩa Max: Hội thành lập trên giấy do Đảng cộng
sản Đông Dương lập ra khi tự giải tán và rút vào bí mật tháng 11 năm 1945.
Nhưng sự thật, Đảng cộng sản vẫn hoạt động bí mật cho đến khi Đảng Lao
động ra đời năm 1951.
Cao Đài: Một tổ chức tôn giáo hổ lốn phát sinh ở Nam bộ vào cuối Thế
chiến thứ Nhất. Cao Đài chống lại tất cả các chính quyền muốn kiểm soát
nó. Giáo phái này vẫn đang còn hoạt động, mặc dù bị chính quyền theo dõi
đặc biệt.
Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia (CPRP): Tổ chức cách mạng
này được thành lập dưới sự yểm trợ của cộng sản Việt Nam từ đầu những
năm 1950. Một trong ba đảng thừa kế đảng cộng sản Đông Dương bị giải
tán năm 1951. Các lực lượng vũ trang của CPRP được gọi là Khmer Đỏ.
Giữa những năm 60, Đảng cộng sản Khơ Me thay thế CPRP.
Trung ương Cục miền Nam (COSVN): Cơ quan đầu não của Cộng sản
hoạt động ở miền Nam trong thời kỳ Pháp-Việt Minh và sau này chiến
tranh Việt Nam. Thành lập năm 1951 và giải tán sau khi Sài Gòn sụp đổ
năm 1975.
Đảng cộng sản Trung Quốc (CCP): Tên đảng bộ của Đảng cộng sản
thành lập ở Thượng Hải, Trung Hoa năm 1921.
Quốc tế Cộng sản (CMT): Tổ chức cách mạng được thành lập tại nước
Nga Xô viết năm 1919, Moscow là cơ quan đầu não của tổ chức. Trực tiếp
lãnh đạo hoạt động của các đảng thành viên trên toàn thế giới. Giải tán năm
1943. Đảng cộng sản Đông Dương gia nhập tổ chức này năm 1935.
Đông Dương Cộng sản Đảng (CPI): Tổ chức cách mạng này chết yểu,
gồm những phần tử ly khai từ Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội năm
1929. Tháng Hai năm 1930 hợp nhất với Tân Việt Đảng thành Đảng cộng
sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập.
Đảng cộng sản Liên Xô (CPSU): Tên cũ Đảng Cách mạng, được thành
lập dưới sự chỉ đạo của Vladimir I. Lenin những năm 1920.
https://thuviensach.vn
Đảng Hiến Pháp: Đảng chính trị ôn hòa do một số phần tử cải lương
thành lập ở Nam bộ đầu những năm 1920. Đảng này chủ trương dành
quyền tự trị dưới sự bảo trợ của Pháp. Lãnh đạo là Bùi Quang Chiêu hay
lên tiếng chỉ trích Đảng cộng sản và bị cán bộ Việt Minh thủ tiêu trong thời
gian Cách mạng tháng Tám 1945.
Đảng Đại Việt: Một tổ chức Dân tộc chủ nghĩa,
thành lập trong thời kỳ
Thế chiến II, theo Nhật kêu gọi và kết nạp những người không cộng sản
chống chế độ thuộc địa của Pháp. Đảng này tồn tại ở Nam Việt Nam đến
năm 1975 khi Sài Gòn sụp đổ.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DRV): Chính quyền độc lập do Hồ Chí
Minh và Mặt trận Việt Minh thành lập ở Bắc Việt ngày 2/9/1945. Tháng
12-1946, quân đội Pháp đánh bật ra khỏi Hà-nội. Hiệp định Geneva năm
1954 thừa nhận chủ quyền của VNDCCH ở miền Bắc VN. Năm 1976 đổi
thành Cộng Hòa XHCN Việt Nam.
Đông kinh Nghĩa thục (Hanoi Free School): Trường học do một số nhà
trí thức yêu nước lập ra ở Hà nội để thúc đẩy cải cách trong thập niên đầu
của thế kỷ XX. Sau khi bị Pháp đóng cửa, những nhà sáng lập đã truyền đạt
ý tưởng vào trường Dục Thanh ở Phan thiết, nơi Hồ Chí Minh đã từng dạy
trong thời gian ngắn năm 1910.
Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Đồng minh Hội): Tổ chức Việt
Nam Dân Quốc dưới sự tài trợ của Quốc Dân Đảng Trung Hoa thành lập
tháng Tám năm 1942. Tổ chức này liên kết một số đảng theo đường lối dân
tộc chủ nghĩa và là con đẻ của tướng Quốc dân đảng Trương Phát Khuê.
Khuê định dùng liên minh này để chống Nhật ở Đông Dương. Mặc dù Hồ
Chí Minh đã tranh thủ lợi dụng tổ chức này cho mục đích của mình, sau
Thế chiến II, Hội này quay ra chống Đảng cộng sản Đông Dương kịch liệt.
Khi cuộc chiến với Pháp nổ ra tháng 12 năm 1946, Hội này coi như giải
tán.
Mặt trận Tổ quốc: Thành lập năm 1955 do chính phủ Việt Nam DCCH,
thay thế cho mặt trận Liên Việt và trước đó là Mặt trận Việt Minh, một tổ
chức ủng hộ đảng phái chính trị ở Việt Nam.
https://thuviensach.vn
Lực lượng quân viễn chinh Pháp: Lực lượng quân đội Pháp đóng ở
Đông Dương trong thời kỳ chiến tranh Pháp-Việt Minh.
Hòa Hảo: Một tổ chức tôn giáo hổ lốn do nhà sư Huỳnh Phú Sổ thành
lập năm 1939. Cực kỳ chống Pháp và chống Cộng từ sau Thế chiến II. Hiện
vẫn đang hoạt động dưới sự theo dõi sát sao của chính quyển Cộng Hoà
XHCNVN.
Thanh niên Cao vọng: một tổ chức dân tộc do Nguyễn An Ninh thành
lập ở Sài gòn giữa những năm 1920. Chết yểu.
Quốc Tử Giám: Trường đào tạo quan lại do triều đình tổ chức, được xây
dựng từ thế kỷ thứ XI ở Hà-nội. Từ thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn
chuyển về kinh đô Huế. Thân phụ Hồ Chí Minh được làm việc thời gian
ngắn ở đây trong vai trợ giáo.
Đảng cộng sản Đông Dương (ICP): Do Hồ Chí Minh và các đồng chí
thành lập tháng 10-1930. Tên cũ là Đảng cộng sản Việt Nam thành lập
tháng 2-1930. Tự giải tán năm 1945. Tái thành lập năm 1951 dưới tên Đảng
Lao động Việt Nam.
Liên bang Đông Dương: Kế hoạch của Đảng cộng sản Đông Dương
giữa thập niên 1930 để thành lập nhà nước Liên bang Cách mạng gồm Việt
Nam - Lào - Campuchia. Sau Thế chiến II, năm 1951, kế hoạch này được
gọi là “mối quan hệ đặc biệt” giữa ba nước.
Liên hiệp Đông Dương: tổ chức hành chính do Pháp lập ra cuối thế kỷ
XIX để bảo đảm luật lệ của Pháp ở khu vực bao gồm Nam Kỳ - An nam
(Trung Kỳ) - Bắc Kỳ -Lào - Campuchia.
Ủy ban Kiểm soát quốc tế: Một tổ chức giám sát thực thi hiệp định đình
chiến Geneva tháng 7-1954, gồm có Canada, Ấn Độ, Ba Lan.
Đảng cộng sản Khmer: Tổ chức cộng sản thành lập giữa thập niên 1960
do Pol Pot cực đoan đứng đầu thay thế Đảng Nhân dân Cách mạng
Campuchia thành lập năm 1951.
Khmer Đỏ: Tên thường dùng để chỉ lực lượng cách mạng Campuchia.
Đôi khi người ta cũng chỉ Đảng cộng sản Khmer.
https://thuviensach.vn
Đảng Nhân dân Cách mạng Lào: Đảng do Đảng cộng sản Việt Nam
bảo trợ, thành lập đầu năm 1950, còn hay được gọi là Pathet Lào.
Mặt trận Liên Việt: Do Đảng cộng sản Đông dưong thành lập năm
1946 để tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng với đảng, sát nhập với Việt
Minh năm 1951, đến năm 1955, Mặt trận Tổ quốc thay thể.
Quốc học: Trường trung học uy tín ở Huế, thành lập năm 1896, đào tạo
các quan lại thế hệ mới, dạy tiếng Pháp và các môn văn minh phương Tây.
Hồ Chí Minh học trường này từ 1907 đến 1808.
Vệ quốc quân: Tên gọi tắt của Giải phóng quân (VLA) sau Cách mạng
tháng Tám, được chọn để tránh rắc rối với lực lượng Trung Hoa đang
chiếm đóng.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (NLF): Liên minh rộng rãi
nhiều nhóm chống đối tại Nam Việt, thành lập năm 1960 dưới sự bảo trợ
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giải tán năm 1976 sau khi thống
nhất hai miền.
Ủy ban Giải phóng Dân tộc: Cơ quan đại diện cho Việt Minh, thành lập
ở Tân Trào để chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám. Hồ Chí Minh làm chủ
tịch.
Cứu quốc Hội: Một tổ chức quần chúng rộng lớn do Đảng cộng sản
Đông Dương thành lập chống Pháp trong Thế chiến thứ II. Sau năm 1954
thường được gọi là Hội Cứu quốc.
Tân Việt Cách mạng Đảng: Đảng cách mạng chống Pháp, thành lập
cuối những năm 1920, sau đó sát nhập vào với Đông Dương Cộng sản
Đảng (ICP).
Pathet Lào: Tên gọi lực lượng quân đội cách mạng Lào. Trong chiến
tranh Việt Nam, lực lượng quân đội này liên kết với Bắc Việt chống Mỹ.
Quân đội Nhân dân Việt Nam: Quân đội thường trực, thành lập sau
1954, kế thừa Giải phóng quân Việt Nam hoạt động trong chiến tranh
chống Pháp.
https://thuviensach.vn
Giải phóng Quân Nhân dân: Còn gọi là Việt Cộng. Thành lập năm
1961, tên cũ của lực lượng trong phong trào cách mạng trong thời kỳ chiến
tranh Việt Nam.
Việt Nam Cộng hoà (RVN): Tên cũ của chính phủ không cộng sản,
thành lập ở Nam Việt sau Hội nghị Geneva. Năm 1956 đổi tên Việt Nam
Tự do. Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ năm 1975, bị đồng hoá trở thành Cộng
hoà XHCNVN.
Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội: Một tổ chức cách
mạng rất sớm do Hồ Chí Minh sáng lập ở Nam Trung Hoa năm 1925. Kết
hợp chủ thuyết cộng sản và quốc gia, sau đó Đảng cộng sản thay thế 1930.
Cộng hoà XHCN Việt Nam: Tên nhà nước Việt Nam thống nhất từ năm
1976 sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc.
Khối Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO): Liên minh do Mỹ thành lập
1954 để ngăn chặn sự bành trướng chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á.
Hiện nay đang tan rã.
Thanh niên Tiền phong: Một phong trào thanh niên rộng khắp Nam Bộ
được Nhật ủng hộ, do Phạm Ngọc Thạch thành lập trong thời gian Thế
chiến II. Đảng cộng sản Đông Dương đã dùng lực lượng này để hỗ trợ
Cách mạng tháng Tám tại Sài gòn.
Việt Cộng: Tên miệt thị để chỉ quân giái phóng miền Nam Việt Nam
trong chiến tranh Việt Nam. Tên cũ của Lực lượng Vũ trang Giải phóng
miền Nam (NLF).
Mặt trận Việt Minh: Do Đảng cộng sản Đông Dương (ICP) đứng ra
thành lập tháng 5-1941. Lực lượng chính trị chủ yếu chống Pháp trong Thế
chiến thứ II và sau 1945 dành độc lập.
Đảng cộng sản Việt Nam: do Hồ Chí Minh thành lập tháng 2/1930. Sau
đó đổi thành Đảng cộng sản Đông Dương (ICP). Đến tháng 12-1976 mới
lấy lại tên này.
Đảng Dân chủ Việt Nam: Một đảng chính trị non yếu không cộng sản,
thành lập dưới sự bảo trợ của Đảng cộng sản Đông Dương, tập hợp những
https://thuviensach.vn
phần tử yêu nước không cộng sản trong thành phần Việt Minh năm 1944.
Đảng đại diện cho những nhà khoa học trí thức yêu nước. Tồn tại đến sau
năm 1976.
Việt Nam Giải phóng quân: Tên cũ của lực lượng kháng chiến chống
Pháp của Đảng cộng sản Đông Dương trong thời kỳ kháng chiến chống
Pháp sau Thế chiến II. Thành lập đầu tiên tháng 12 -1944, đổi tên Quân đội
Nhân dân Việt Nam sau Hội nghi Geneva 1954.
Việt Nam Giải phóng Đồng Minh: Một tổ chức mặt trận do Hồ Chí
Minh sáng lập ở miền Nam Trung Quốc năm 1941, nhằm tập hợp các phần
tử chống Pháp dưới sự lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng, nhưng
sau đó có nhiều phần tử chống cộng tham gia trong một số khu vực. Sau đó
Đồng Minh Hội thay thế.
Quân đội Quốc gia Việt Nam: Tên chính thức của các lực lượng vũ
trang của Quốc gia Liên hiệp do Bảo Đại làm Quốc trưởng. Sau hội nghị
Geneva, năm 1956 được Quân đội Việt Nam Cộng hòa thay thế.
Việt Nam Quốc dân đảng: Đảng dân tộc không cộng sản, thành lập ở
Bắc Kỳ năm 1927. Trong nhiều thập niên là đối trọng chính trị chủ yếu của
Đông Dương Cộng sản Đảng. Nay đã bị giải tán.
Việt Nam Quang phục Hội: Đảng chống thực dân do Phan Bội Châu
thành lập năm 1912. Mục tiêu thay thế chế độ quân chủ bằng nền cộng hòa.
Sau mấy cuộc nổi dậy thất bại, đảng bị mất uy tín và tan rã.
Đảng Lao động Việt Nam: Tên hình thức của Đảng cộng sản Việt Nam
năm 1951. Sau đó đổi tên Đảng cộng sản Việt Nam.
https://thuviensach.vn
MỞ ĐẦU
Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, những xe tăng Bắc Việt Nam do Liên
Xô sản xuất ầm ầm lao qua ngoại ô bắc Sài Gòn và tiến về dinh tổng thống
nằm giữa thành phố này. Trên xe tăng, binh sĩ mặc binh phục dã chiến và
mũ cối đặc trưng gắn một ngôi sao vàng, vẫy cờ Chính phủ Cách mạng lâm
thời.
Sáng 30 tháng 4 năm 1975, những chiếc xe tăng Bắc Việt do Liên Xô sản
xuất ầm ầm tiến qua các vùng ngoại ô bắc Sài Gòn hướng về phủ tổng
thống, trung tâm thành phố. Ngồi trên những chiếc xe tăng là những người
lính mặc quân phục dã chiến, đội mũ cối gắn sao vàng, vẫy cờ Chính phủ
Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Ngay sau buổi trưa,
một tốp xe tăng chậm chạp lăn bánh dọc theo đại lộ Thống Nhất ngang qua
Tòa đại sứ Hoa Kỳ, nơi mà cách đó hai tiếng những người lính thuỷ đánh
bộ Mỹ cuối cùng được máy bay trực thăng đưa đi từ trên nóc toà nhà. Chiếc
xe đi đầu lưỡng lự giây lát ngoài cánh cổng sắt dinh tổng thống rồi đâm
thẳng húc đổ cánh cổng, xe dừng lại bên thảm cỏ ngay trước thềm vào
dinh. Người chỉ huy xe tăng trẻ tuổi bước vào toà nhà, gặp Tổng thống
Dương Văn Minh - “Minh Lớn” chớp nhoáng. Sau đó anh lên nóc dinh,
tiến tới cột cờ và thay lá cờ Việt Nam Cộng Hoà bằng lá cờ xanh đỏ của
Chính phủ Cách mạng lâm thời.
Cuộc chiến tranh kéo dài ở Việt Nam đã kết thúc. Sau gần một thập niên
chiến đấu gian khổ và đẫm máu đã làm hơn 50.000 lính Mỹ tử trận, những
người lính Mỹ cuối cùng đã lên đường về nước sau khi Hiệp định Paris
được ký kết vào 1-1973. Tuy nhiên, Hiệp định này đã nhanh chóng vi
https://thuviensach.vn
phạm, vài tháng sau, các lực lượng vũ trang của chế độ Sài Gòn đã liên tiếp
đụng độ với Việt Cộng và quân đội Bắc Việt (Quân đội Nhân dân Việt
Nam) trong đó có hơn 100.000 người được Hiệp định ngầm chấp thuận ở
lại miền Nam. Tháng 12 năm 1974, được khích lệ bởi thắng lợi trên chiến
trường và nhận định Hoa Kỳ sẽ không can thiệp lại vào cuộc chiến, các nhà
lãnh đạo đảng (Đảng cộng sản Việt Nam lúc đó mang tên Đảng Lao động
Việt Nam) thông qua kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân
Việt Nam tiến hành chiến dịch trong hai năm nhằm đánh đổ chính quyền
Sài Gòn vào mùa xuân năm 1976. Tuy nhiên, những trận đánh thăm dò ban
đầu dọc biên giới Campuchia và Tây Nguyên đầu năm 1975 đã cho thấy
Sài Gòn chống trả yếu ớt. Do vậy, cuối tháng 3-1975, Hà Nội đã ra lệnh
cho các tư lệnh chỉ huy ở miền Nam giành thắng lợi cuối cùng trước khi
mùa khô kết thúc vào cuối tháng 4-1975. Hệ thống phòng thủ của Sài Gòn
phía bắc Nam Bộ đã nhanh chóng sụp đổ và tới giữa tháng Tư những đoàn
quân Bắc Việt đã nam tiến về Sài Gòn. Tổng thống Nam Việt Nguyễn Văn
Thiệu từ chức ngày 21 tháng 4 năm 1975. Người kế nhiệm là một chính trị
gia Sài Gòn lớn tuổi Trần Văn Hương cũng chỉ nắm chính quyền trong bảy
ngày và lại bị Minh “Lớn” thay thế với mong muốn tuyệt vọng, viên tướng
miền Nam được nhiều người biết đến có thể sẽ khiến cho Bắc Việt chấp
nhận thoả hiệp hòa bình. Nhưng những cử chỉ thăm dò hòa bình của tướng
Minh đã bị Hà Nội lờ đi.
Thắng lợi của cộng sản ở Sài Gòn là kết quả của lòng quyết tâm và sự
lãnh đạo tài tình của nhà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn và
những cộng sự kỳ cựu của ông ở Hà Nội. Một đóng góp không kém phần
quan trọng là những đoàn quân Bắc Việt và du kích Việt Cộng - gọi tắt là
bộ đội (bộ đội tiếng Việt có nghĩa như GI của Hoa Kỳ), những người đã
chiến đấu và hy sinh cả một thế hệ cho sự nghiệp cách mạng trong những
khu rừng rậm và đầm lầy ở miền Nam Việt Nam. Nhưng quan trọng hơn cả
là tầm nhìn, ý chí và khả năng lãnh đạo của một con người. Hồ Chí Minh,
người sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam, nhà lãnh đạo phong trào cách
mạng và Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tới khi ông mất vào
https://thuviensach.vn
năm 1969, sáu năm trước khi chiến tranh kết thúc. Để tỏ lòng kính trọng
đối với những cống hiến của ông, sau khi Sài Gòn sụp đổ, các đồng chí của
ông đã đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh.
Là đặc vụ của Quốc tế Cộng sản tại Moscow, thành viên phong trào cộng
sản quốc tế, kiến trúc sư cho sự thắng lợi của Việt Nam, Hồ Chí Minh, rõ
ràng là một trong những nhân vật chính trị có ảnh hưởng lớn nhất của thế
kỷ XX. Hồ Chí Minh còn là một trong những nhân vật huyền bí nhất, một
con người với những động cơ và hành động đã gây nhiều tranh cãi. Trong
ba thập niên, đã có những tranh luận về một câu hỏi nhìn bề ngoài có vẻ
đơn giản về những động cơ xuyên suốt cuộc đời Hồ Chí Minh đối với sự
nghiệp cách mạng. Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc hay theo
chủ nghĩa cộng sản? Hình ảnh giản dị, vô tư của Hồ Chí Minh trước công
chúng, chân thực hay giả dối? Với những người ủng hộ, Hồ Chí Minh là
biểu tượng của chủ nghĩa nhân đạo cách mạng, là bậc cha anh đã cống hiến
tất cả cho hạnh phúc của nhân dân và công cuộc giải phóng tất cả các dân
tộc bị áp bức trên thế giới. Đối với những người đã được gặp ông, cả người
Việt Nam cũng như người nước ngoài, ông là một “người hiền lành, tử tế”.
Cho dù là một nhà lãnh đạo lớn trên thế giới, thực chất ông là nhà ái quốc
vị tha gần gũi với nhân dân và nguyện suốt đời mang lại cuộc sống ấm no
cho nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, một số nhà phê bình lại chỉ trích những
hành động cách mạng thái quá mà người ta vẫn cho rằng là của ông và ông
có tính cách hay thay đổi theo hoàn cảnh, một con sói đội lốt cừu.
Nghi ngờ về tính cách và những động cơ bên trong của Hồ Chí Minh là
trọng tâm của cuộc tranh luận ở Hoa Kỳ về mặt đạo lý của cuộc chiến Việt
Nam. Đối với những người chỉ trích chính sách của Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh
là người yêu nước giản dị đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho
nhân dân Việt Nam, người đấu tranh mạnh mẽ chống lại chủ nghĩa đế quốc
toàn cầu trong Thế Giới Thứ Ba. Những người ủng hộ nỗ lực chiến tranh
của Hoa Kỳ nghi ngờ động cơ yêu nước của Hồ Chí Minh gián tiếp chỉ ra
rằng, ông từ lâu là đặc vụ của Iosiff Stalin, đã có năm thập niên phục vụ
cho cách mạng thế giới. Họ cho rằng, hình ảnh chủ nghĩa dân tộc mà Hồ
https://thuviensach.vn
Chí Minh cần mẫn gây dựng chỉ là mưu đồ để giành sự ủng hộ trong nước
và quốc tế cho sự nghiệp cách mạng.
Đối với người Mỹ, cuộc tranh luận về Hồ Chí Minh tạo ra những cảm
xúc mạnh mẽ về một cuộc chiến tranh đã đi vào quá khứ. Đối với người
Việt Nam cuộc tranh luận gợi nên những câu hỏi quan trọng hơn nhiều, bởi
điều này xác định những vấn đề trọng tâm trong cuộc cách mạng Việt Nam
- mối quan hệ giữa quyền tự do con người và bình đẳng về kinh tế ở nước
Việt Nam mới trỗi dậy sau chiến tranh-. Kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết
thúc, các cộng sự của Hồ Chí Minh, một số vẫn đang nắm giữ quyền hành
tại Hà Nội, đã không ngừng đúc rút từ những ký ức của Hồ Chí Minh để
thần thánh hoá mô hình phát triển đất nước cộng sản. Những người này cho
rằng, mục tiêu của Hồ Chí Minh trong suốt sự nghiệp của mình là xoá bỏ
bóc lột của chủ nghĩa tư bản toàn cầu và tạo ra một thế giới cách mạng mới
với đặc điểm chính là chủ nghĩa xã hội không tưởng của Karl Marx. Tuy
nhiên, một số ý kiến khác lại không đồng tình, cho rằng mục tiêu chính
trong sự nghiệp của ông là quyết tâm làm mềm mỏng nguyên tắc cứng nhắc
bất di bất dịch trong cuộc đấu tranh giai cấp theo luận thuyết Marxist thông
qua việc kết hợp nguyên tắc này với Khổng Tử và ba nhân tố cách mạng
Pháp là Tự do, Bình đẳng và Bác ái. Để biện hộ, họ trích dẫn một trong
những khẩu hiệu của ông thường thấy ở Việt Nam ngày nay “Không có gì
quý hơn độc lập tự do”[1*].
Vì thế cuộc tranh luận về Hồ Chí Minh là cốt lõi của một số vấn đề quan
trọng tạo nên dấu ấn thế kỷ XX, kỷ nguyên của chủ nghĩa dân tộc, chủ
nghĩa cách mạng, chủ nghĩa quân bình và phấn đấu vì quyền tự do của con
người. Sự phức tạp trong tính cách của Hồ Chí Minh phản ánh phức tạp của
thời đại. Ông vẫn là một thế lực đầy uy quyền ở Việt Nam sau chiến tranh
được hàng triệu người kính trọng nhưng rõ ràng cũng bị nhiều người căm
ghét. Dù tốt hay xấu, Hồ Chí Minh đã thể hiện trong ông hai động lực quan
trọng của xã hội hiện đại - khao khát độc lập dân tộc và phấn đấu vì công
bằng kinh tế và xã hội. Mặc dù chúng ta chưa có đủ tất cả mọi bằng chứng
https://thuviensach.vn
nhưng đã đến lúc phải phân tích đánh giá nhân vật có ảnh hưởng trong thế
kỷ XX dưới góc độ lịch sử.
Những khó khăn mà bất kỳ một nhà v...
 





